Chương 1 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY DIESEL SÔNG CÔNG TRƯỚC NĂM 1986 1. Khái quát về thành phố Sông Công và sự ra đời Nhà máy Diesel Sông Công 1. Khái quát về thành phố Sông Công Địa bàn thành phố Sông Công ngày nay nguyên là vùng đất các xã thuộc khu vực Bắc Phổ Yên, Tây Nam huyện Đồng Hỷ và Tây Bắc huyện Phú Bình. Trước thế kỉ XIX, vùng đất này còn hoang dã, rừng thiêng nước độc, có nhiều thú dữ, cư dân rất thưa thớt.
Những năm sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chính quyền thực dân cấp phép cho một số lính xuất ngũ được chiêu mộ nông dân ở các tỉnh miền xuôi lên khai hoang lập ấp. Theo đó, một số gia đình các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình. lên làm ăn, sinh sống. Vốn là nơi hoang vu, nên từ đầu năm 1941, thực dân Pháp chọn khu vực đồi gò ở thôn Bá Vân (nay thuộc xã Bình Sơn) để lập một trại giam, thường gọi là căng (camp) Bá Vân để giam giữ những người chúng cho là phản nghịch.
Vào thời điểm tháng 8/1943, tổng số tù nhân bị thực dân Pháp giam giữ tại căng Bá Vân có 194 người; trong đó có những người đã mãn hạn tù, người có án và người chưa thành án. Ngoài số tù nhân là đảng viên cộng sản, còn có một số người thuộc các đảng phái khác, như Quốc dân đảng, Đại Việt. cũng bị địch bắt và đưa về giam giữ tại đây. Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19/12/1946), nhiều hộ gia đình ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ tản cư lên vùng đất này, được chính quyền và nhân dân địa phương giúp đỡ, nhanh chóng ổn định cuộc sống, tích cực tăng gia sản xuất, chi viện tiền tuyến.
Sau ngày hòa bình được lập lại (21/7/1954), đồng bào không trở về quê cũ, mà ở lại sinh cơ lập nghiệp, coi đây là quê hương thứ hai của mình. Vào đầu những năm 60 của thế kỉ XX, thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, một bộ phận đồng bào các tỉnh: Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên 7 c lên tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng quê hương mới. Dân số trong khu vực tăng dần lên. Ngày 11/4/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 113-QĐ/HĐBT thành lập thị xã Sông Công, gồm có 3 phường: Mỏ Chè, Lương Châu, Thắng Lợi và 3 xã: Cải Đan, Tân Quang, Bá Xuyên.
Ngày 10/4/1999, Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ra Nghị định số 18/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính và thành lập các xã, phường thuộc thị xã Sông Công: thành lập phường Phố Cò trên cơ sở 465 ha diện tích tự nhiên và 4.898 nhân khẩu của xã Cải Đan; thành lập xã Vinh Sơn trên cơ sở 410 ha diện tích tự nhiên, 904 nhân khẩu của xã Bá Xuyên và 382 ha diện tích tự nhiên, 1.119 nhân khẩu của xã Cải Đan; thành lập phường Cải Đan trên cơ sở 533 ha diện tích tự nhiên và 1. Ngày 13/6/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 05-TTg, phân chia địa giới xã Tân Quang thành phường Bách Quang và xã Tân Quang. Như vậy, từ thời điểm này trở đi, thị xã Sông Công gồm có 6 phường: Bách Quang, Cải Đan, Lương Châu, Mỏ Chè, Phố Cò, Thắng Lợi và 4 xã: Bình Sơn, Bá Xuyên, Tân Quang, Vinh Sơn với tổng số 131 thôn, tổ dân phố. Thị xã Sông Công nằm trong khoảng tọa độ địa lí 21°28’ vĩ Bắc, 105°51’ kinh Đông; phía bắc giáp thành phố Thái Nguyên, phía đông giáp thành phố Thái Nguyên và thị xã Phổ Yên, phía nam và phía tây giáp thị xã Phổ Yên.
Địa hình thị xã Sông Công tương đối bằng phẳng, có cấu trúc đa dạng trên một vùng đồi đất thấp (diện tích đồi, núi thấp chiếm 2/3 diện tích toàn Thị xã). Nơi cao nhất trong khu vực nội thị là ngọn núi Tảo (54 m). Địa hình Thị xã dốc từ hướng tây bắc xuống đông nam, theo hướng chảy của sông Công. Cao độ nền trung bình thường ở mức 15 - 17 m.
Trên địa bàn thị xã Sông Công có 2 trường cao đẳng, 1 trung tâm hướng nghiệp, 1 trung tâm dạy nghề, 2 trường Trung học phổ thông, 5 trường Trung học cơ sở, 1 trung tâm bồi dưỡng chính trị, 10 trung tâm học tập cộng đồng ở 10 xã, phường. Hệ thống y tế được quan tâm đầu tư nâng cấp với gần 70% trạm 8 c y tế đạt chuẩn Quốc gia. Tháng 7/2010, Đảng bộ và nhân dân Sông Công vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất. Ngày 15/5/2015, theo Nghị quyết số 932/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thành phố Sông Công được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Sông Công.
Thành phố Sông Công được quy hoạch trở thành một đô thị công nghiệp theo hướng hiện đại. Hiện tại, trên địa bàn Thành phố đã và đang thu hút nhiều dự án đầu tư về đô thị như: Khu đô thị Kosy 40 ha, khu dân cư đường Thống Nhất 20 ha… 1. Quá trình thành lập Nhà máy Diesel Sông Công Từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX, xuất phát từ yêu cầu đẩy mạnh phát triển công nghiệp cơ khí, cơ khí hóa nông nghiệp và phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng, một trung tâm công nghiệp cơ khí từng bước hình thành ở vùng Tây Nam huyện Đồng Hỷ và Bắc huyện Phổ Yên, dọc theo hữu ngạn và tả ngạn sông Công, liền kề với Quốc lộ 3 và đường sắt Quán Triều - Đông Anh. Một khu vực rộng lớn đồi núi, gò, đầm được san lấp để xây dựng các nhà máy.
Khu vực Bắc Phổ Yên và Tây Nam huyện Đồng Hỷ vốn là vùng đồi gò hoang vu, hẻo lánh, dần dần trở thành một khu đô thị sầm uất. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, cách mạng nước ta chuyển sang thời kì mới với hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, trong đó có công nghiệp cơ khí và luyện kim. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976) nêu rõ: “Ngành Cơ khí phải được nhanh chóng xây dựng lớn mạnh.
Hoàn thành sớm việc quy hoạch xây dựng và sản xuất cơ khí trong cả nước; đẩy mạnh chuyên môn hoá và hiệp tác hoá sản xuất giữa cơ khí của các ngành và các địa phương. Sắp xếp, cải tạo và mở rộng những xí nghiệp hiện có; tập trung sức xây dựng một số xí nghiệp mới quan trọng. Cung ứng đủ công cụ thường và công cụ cải tiến với chất lượng tốt; bảo đảm phần lớn nhu cầu sửa chữa máy móc, thiết bị và nhu cầu phụ tùng của các ngành kinh tế; sản xuất nhiều máy công cụ, động cơ, máy kéo, bơm, máy móc nông nghiệp; lắp ráp xe vận tải, 9 c đóng tàu vận tải biển, tàu đánh cá, tàu hút bùn, tuốc bin thuỷ điện cỡ nhỏ; sản xuất hàng loạt thiết bị toàn bộ cỡ vừa và nhỏ cho các nhà máy gạch, ngói, xi măng, đường, chè, xay xát gạo.; cung ứng một phần thiết bị lạnh, thiết bị mỏ, thiết bị điện, máy móc xây dựng. Phát triển luyện kim từng bước, cân đối với sản xuất cơ khí và quy mô xây dựng cơ bản.
Hoàn thành xây dựng và mở rộng các cơ sở luyện thép hiện có; xây dựng nhiều lò thép điện trong các nhà máy cơ khí; chuẩn bị khởi công xây dựng cơ sở luyện thép cỡ lớn. Mở rộng sản xuất cờrômít, thiếc; chuẩn bị xây dựng các cơ sở luyện chì, kẽm, v. tìm kiếm những nguồn quặng mới. Vào tháng 2/1976, với sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ), Công trình Diesel Sông Công được khởi công xây dựng trên diện tích rộng hơn 16 ha tại khu vực Bắc Phổ Yên và Tây Nam huyện Đồng Hỷ, nơi cách thủ đô Hà Nội 58 km về phía bắc.
Hàng ngàn kĩ sư và công nhân Việt Nam cùng các chuyên gia Liên Xô đã sát cánh bên nhau xây dựng, làm nên quy mô và sự bề thế của một khu công nghiệp mới. Ngày 10/4/1979, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 112/TTg, phê duyệt nhiệm vụ thiết kế Nhà máy Sông Công chế tạo động cơ diesel do Bộ Cơ khí và Luyện kim quản lí, với nội dung như sau: Tên công trình: Nhà máy Sông Công chế tạo động cơ diesel (tên cũ: Diesel Gò Đầm). Địa điểm xây dựng: Thôn Lương Châu, xã Thành Công, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Bắc Thái; diện tích chiếm đất 15 ha. Nhiệm vụ của Nhà máy: Chế tạo động cơ diesel cỡ 50 mã lực, động cơ khởi động chạy bằng xăng cỡ 10 mã lực, một số phụ tùng của các loại động cơ nói trên và một số phôi rèn, dập, phôi đúc (gang, thép, kim loại màu).
Năng lực sản xuất: 10.000 tấn/năm sản phẩm xuất xưởng các loại. Sản phẩm của Nhà máy: Động cơ diesel 50 mã lực có kèm theo động cơ khởi động 10 mã lực 2.428 tấn/năm; bơm nhiên liệu 4 nhánh và 2 nhánh 5.000 bộ/năm, 145 tấn/năm; vòi phun nhiên liệu 21.000 bộ/năm, 10 10 c tấn/năm; phụ tùng động cơ 255 tấn/năm; phụ tùng bơm nhiên liệu và vòi phun 56 tấn/năm; phôi rèn dập các loại 2. Hợp tác sản xuất và cung cấp vật liệu: Nhà máy nhận từ bên ngoài các loại nguyên, nhiên, vật liệu cùng một số phụ tùng, bán thành phẩm gồm: manhêtô, bugi, máy phát điện, động cơ điện, khí cụ điện, đo lường các loại; bộ chế hòa khí, bơm bánh răng, bộ giữ nhiệt, ống dẫn nhiên liệu, ống dẫn dầu, dây dẫn điện; các chi tiết phi kim loại, các chi tiết bằng gang, rèn, các chi tiết tiêu chuẩn hóa. Nhà máy có nhiệm vụ cung cấp 6.000 tấn/năm phôi rèn dập cho bên ngoài.
Trang thiết bị của Nhà máy: Sử dụng thiết bị đồng bộ do Liên Xô cung cấp, riêng một số trang thiết bị đơn giản do các xí nghiệp trong nước chế tạo. Quy mô xây dựng và thiết kế công trình: Nhà máy có không quá 60.000 m2 diện tích xây dựng, có mái che các loại trong đó: Nhà sản xuất: 42.400 m2; 2 2 Nhà hành chính, quản lí (3 tầng): 1.000 m2; Diện tích khai thác: 4. Nhà máy có các hạng mục phụ, hạng mục phục vụ cần thiết như: Kho lộ thiên, đường vận chuyển nội bộ và đường sắt chuyên dụng tới ga Lương Sơn, hệ thống cung cấp điện, hệ thống cung cấp và thoát nước (có xử lí nước thải), mạng lưới thông tin, truyền thanh, trang bị chống sét, cổng, tường rào, cây xanh.