Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Lập luận trên diễn đàn Quốc hội qua những phiên chất vấn" do nghiên cứu sinh Nguyễn Diệu Thương thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Đức Dân và TS. Nguyễn Văn Lộc, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số: 9220102).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội Việt Nam, cụ thể là định hướng chỉ đạo tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV: "Chuyển từ Quốc hội tham luận sang Quốc hội tranh luận". Trong hoạt động lập pháp và giám sát tối cao, năng lực lập luận và tranh luận của các đại biểu đóng vai trò quyết định đến hiệu lực của các phiên họp. Tuy nhiên, trên thực tế tại nhiều kỳ họp, bên cạnh các lập luận chặt chẽ vẫn xuất hiện những lập luận chưa thuyết phục, vi phạm các quy tắc logic và hội thoại.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định rõ: trong khi lý thuyết lập luận trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ từ logic hình thức sang logic phi hình thức, dụng học biện chứng và ngôn ngữ học triệt để, thì tại Việt Nam, các nghiên cứu lập luận trong ngôn ngữ học chủ yếu mới dừng lại ở cấu trúc nội tại tĩnh của câu hoặc văn bản miêu tả, chưa đặt lập luận vào sự vận động tương tác thực tế của hội thoại tranh luận (ngữ cảnh mà lập luận bộc lộ đầy đủ chức năng nhất), đặc biệt là trong diễn ngôn nghị trường mang tính đặc thù cao.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ đặc điểm của lập luận nhìn từ cấu trúc nội tại của từng lượt lời và đặc điểm lập luận trong sự vận động, tương tác tranh luận; nhận xét việc sử dụng lập luận trong các lượt lời hỏi/chất vấn, trả lời, điều hành và mô hình tranh luận trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam nhằm hướng tới việc nâng cao hiệu quả lập luận trong bối cảnh chất vấn.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thu thập, tổng thuật các tài liệu liên quan: các công trình nghiên cứu về lập luận trên thế giới và Việt Nam; văn bản ghi chép, băng truyền hình trực tiếp nội dung các phiên hỏi/chất vấn tại nghị trường Quốc hội Việt Nam.
  2. Thống kê, phân loại các thành phần trong cấu trúc lập luận qua phiên chất vấn: các thành phần luận cứ, kết luận, lí lẽ; các yếu tố ngôn ngữ (kết tử lập luận, tác tử lập luận); các kiểu mô hình lập luận; các lập luận yếu/sai (chưa thuyết phục); các hành vi hỏi, trả lời, điều hành và các mô hình tương tác hội thoại.
  3. Phân tích, đánh giá, lí giải lập luận dựa trên sự miêu tả, sơ đồ hóa cấu trúc lập luận và lược đồ hóa các hội thoại tranh biện trong mối quan hệ vận động tương tác (các tham thoại, hành vi chất vấn và trả lời).
  4. Nhận xét về cách thức sử dụng lập luận từ kết quả phân tích thực trạng và định hướng giải pháp nâng cao chất lượng lập luận.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là lập luận qua những phiên chất vấn trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, được khảo sát đồng thời ở hai bình diện: sản phẩm của quá trình suy luận logic xuất phát từ tiền đề đến kết luận (cấu trúc nội tại trong từng lượt lời) và hành vi ngôn ngữ phức hợp trong hội thoại tranh luận.

Phạm vi nghiên cứu bao gồm các ngữ liệu lập luận (hình thức và nội dung) trong các phiên chất vấn trực tiếp (kể cả phiên chất vấn kết hợp thảo luận báo cáo kinh tế – xã hội) từ Quốc hội khóa XI đến khóa XIV. Trong đó, luận án sử dụng mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 206 lập luận (83 đại lập luận) tại hai phiên họp liền nhau thuộc Quốc hội khóa XIII, đồng thời đối chiếu, kiểm chứng mở rộng qua các phiên họp khác thuộc các khóa XI, XII và XIV. Nguồn dữ liệu được trích xuất từ cổng thông tin điện tử chính thức của Quốc hội Việt Nam (quochoi.vn) kết hợp băng ghi hình thực tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành tổng thuật hệ thống nghiên cứu về lập luận trên thế giới và tại Việt Nam qua nhiều giai đoạn:

Trên thế giới, nghiên cứu lập luận khởi nguồn từ thời Cổ đại với tác phẩm Tu từ học của Aristotle (năm 1947 tiếp tục được tái bản, phân tích), sau đó phát triển qua các trường phái:

  • Quan điểm của S. Toulmin và Ch. Perelman: S. Toulmin (1958) mở rộng mô hình truyền thống thành mô hình lập luận 6 thành tố (Dữ liệu, Biện minh, Hỗ trợ biện minh, Hạn định, Phản bác, Tuyên bố). Ch. Perelman và L. Olbrechts-Tyteca (1958, 1969) đề xuất các kỹ thuật lập luận trong Tân tu từ học.
  • Quan điểm Logic phi hình thức (Informal Logic): Phát triển từ đầu thập niên 1970 tại Bắc Mỹ với tạp chí Informal Logic do J. A. Blair và R. H. Johnson biên soạn (1978, 1987), xác lập ba tiêu chí cho tiền đề: sự xác đáng, sự đầy đủ và khả năng được chấp nhận.
  • Quan điểm nghiên cứu về Lập luận sai (Fallacies): Khởi xướng hiện đại bởi C. L. Hamblin (1970) với công trình Fallacies, tiếp nối bởi J. Woods và D. Walton (1982, 1989) với cách tiếp cận đa nguyên, kết hợp logic hình thức và cấu trúc đối thoại.
  • Quan điểm Biện chứng hình thức (Formal Dialectics): E. M. Barth và E. C. W. Krabbe (1982) xây dựng quy trình đối thoại kiểm tra luận điểm dựa trên logic đối thoại của Lorenzen.
  • Quan điểm Dụng học biện chứng (Pragma-dialectics): F. H. van Eemeren và R. Grootendorst (1984, 1992, 2004) tích hợp lý thuyết hành động ngôn ngữ của J. Searle và phương châm hội thoại của H. P. Grice, thiết lập 10 quy tắc tranh luận và mô hình 4 giai đoạn thảo luận phản biện. D. Walton, Krabbe (1995), McBurney và Parsons (2001) phân loại 7 dạng hội thoại.
  • Chủ nghĩa lập luận triệt để (Radical Argumentativism): O. Ducrot và J. C. Anscombre (1983) với công trình Les échelles argumentatives, nhấn mạnh ngôn ngữ có chức năng cơ bản là lập luận, phân tích vai trò định hướng của các kết tử lập luận, tác tử lập luận, thuyết đa thanh và thang độ lập luận.
  • Các hướng tiếp cận khác: Logic tự nhiên của J. B. Grize (Đại học Neuchâtel); nhóm Dụng học Geneva (Roulet, Moeschler, Reboul); lý thuyết vấn đề học của M. Meyer (1986); tu từ học hiện đại của J. Kopperschmidt (1977), O. Reboul (1988), M. Kienpointner (1991), F. Braet (1984), C. A. Willard, Hample và Benoit (1992); các nghiên cứu lập luận nghị trường của F. H. van Eemeren và B. Garssen, V. Petukhova, A. Malchanau, H. Bunt (2015), N. Naderi (2016).

Tại Việt Nam, nghiên cứu lập luận được mở đầu bởi Đỗ Hữu Châu (1996), Nguyễn Đức Dân (1996, 1998, 2005, 2013) và Nguyễn Thiện Giáp. Tiếp đó là các nghiên cứu chuyên biệt về phương tiện chỉ dẫn lập luận như Nguyễn Minh Lộc (1994), Kiều Tập, Nguyễn Thị Thu Trang (2016); các nghiên cứu vận dụng phân tích lập luận trong văn bản hành chính (Nguyễn Thị Hường, 2010), hội thoại văn học (Chu Thị Quỳnh Phương, 2016), luật tục (Nguyễn Thị Thắm, 2019), diễn ngôn pháp lý (Lê Tô Thúy Quỳnh, 2002), tiểu thuyết (Trần Thị Giang, 2005), logic - ngữ nghĩa (Nguyễn Duy Trung, 2014), tiểu phẩm trào phúng (Trần Trọng Nghĩa, 2016). Nghiên cứu về ngụy biện có Nguyễn Minh (2016) trên ngữ liệu báo chí. Về tài liệu Quốc hội, có bài giảng của Trần Ngọc Đường (2014) và Nguyễn Minh Thuyết (2013) về kỹ năng thu thập thông tin, thuyết trình và tranh luận.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận lập luận trên diễn đàn Quốc hội một cách toàn diện thông qua việc tích hợp đa ngành giữa logic học, ngữ dụng học và tu từ học; giải quyết khoảng trống trong việc phân tích lập luận gắn liền với bối cảnh tương tác hội thoại tranh luận thực tế tại nghị trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Khái niệm lập luận: Được xác định ở hai phương diện: là sản phẩm của quá trình suy luận từ tiền đề đến kết luận và là hành vi ngôn ngữ phức hợp nhằm dẫn dắt người nghe chấp nhận một quan điểm.
  2. Cấu trúc lập luận nội tại:
    • Mô hình truyền thống kết hợp miêu tả của O. Ducrot: gồm Tiền đề (Luận cứ - LC, Lí lẽ - W), Kết luận (KL) và Chỉ dẫn lập luận (CDLL). Chỉ dẫn lập luận gồm Tác tử lập luận (TT), Tác tử tình thái (TTTT) và Kết tử lập luận (KT: gồm kết tử 2 vị trí - KT2VT, kết tử 3 vị trí - KT3VT; kết tử dẫn nhập luận cứ - KTDNLC, kết tử dẫn nhập kết luận - KTDNKL; đồng hướng và nghịch hướng).
    • Mô hình lập luận 6 thành tố của Stephen Toulmin: Dữ liệu (Data - D), Biện minh/Lí lẽ (Warrant - W), Tuyên bố/Kết luận (Claim - C), Hỗ trợ biện minh (Backing - B), Hạn định (Qualifier - Q), Phản bác (Rebuttal - R).
  3. Lý thuyết hội thoại tranh luận (Pragma-dialectics & Dialogue Theory):
    • 4 giai đoạn tranh luận: Đối chất (confrontation), Mở đầu (opening), Lập luận (argumentation), Kết thúc (concluding).
    • 10 quy tắc tranh luận hợp lý của F. H. van Eemeren và R. Grootendorst.
    • 7 kiểu hội thoại tranh luận (D. Walton, Krabbe, McBurney, Parsons): Thuyết phục, Điều tra, Khám phá, Đàm phán, Tìm kiếm thông tin, Cân nhắc, Tranh cãi cá nhân.
  4. Hệ thống lập luận sai (Fallacies): Phân loại theo vi phạm quy tắc logic, ngôn ngữ hoặc ngữ dụng gồm: lập luận sai do vi phạm tính quan yếu, lập luận sai do quy trình suy luận, lập luận sai do ngôn từ và lập luận sai do mệnh đề/tiền đề thiếu căn cứ.
  5. Tiêu chuẩn lập luận tốt: Tính hiệu lực (validity), tính vững chắc (soundness), tính rõ ràng (clarity), tính đầy đủ (sufficiency), tính quan yếu (relevance), tính hợp lí (reasonability) và tính thuyết phục (cogency).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên nghiên cứu trường hợp (case study), phối hợp các phương pháp và thủ pháp cụ thể:

  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả hình thái ngôn từ, các chỉ dẫn lập luận, thành tố cấu trúc và các hành vi ngôn ngữ.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích cấu trúc lập luận trong mối quan hệ ngữ cảnh nghị trường, sự tương tác giữa người chất vấn, người trả lời và chủ tọa.
  • Thủ pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các kiểu lập luận hợp lý và lập luận chưa thuyết phục, đối chiếu giữa các lượt lời.
  • Thủ pháp thống kê, phân loại: Định lượng tần suất xuất hiện của các kết tử, tác tử, kiểu luận cứ, kiểu mô hình lập luận, dạng câu hỏi/câu trả lời trên mẫu khảo sát.

Quy trình đánh giá lập luận tại nghị trường được thực hiện qua 3 bước:

  • Bước 1: Phân tích, miêu tả các từ ngữ chỉ dẫn để tường minh hóa lập luận.
  • Bước 2: Tường minh hóa các yếu tố cấu trúc lập luận theo mô hình S. Toulmin.
  • Bước 3: Đánh giá lập luận trong bối cảnh hội thoại dưới tư cách hành vi ngôn ngữ và phân tích lược đồ tranh luận.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Ngữ liệu gồm các biên bản văn bản và tư liệu truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn từ khóa XI đến khóa XIV khai thác từ cổng thông tin Quốc hội Việt Nam, tập trung phân tích 206 lập luận (83 đại lập luận) mẫu thuộc khóa XIII.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 1 xây dựng bức tranh toàn cảnh về lý thuyết lập luận quốc tế và trong nước, đồng thời thiết lập khung phân tích và cơ sở thực tiễn về tổ chức hoạt động Quốc hội.

Về cơ sở lý luận, chương này tổng hợp các bảng phân loại cốt lõi làm công cụ nghiên cứu:

Kiểu hội thoại Tình huống ban đầu Mục đích của người tham gia Mục đích của hội thoại
Thuyết phục Xung đột về ý kiến Thuyết phục người đối thoại Giải quyết hoặc làm rõ vấn đề
Điều tra Cần có chứng cứ Tìm và xác minh bằng chứng Chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết
Khám phá Cần tìm lời giải thích cho thực tế Tìm và bảo vệ giả thuyết phù hợp Chọn giả thuyết tốt nhất để kiểm tra
Đàm phán Xung đột về lợi ích Đạt được điều mong muốn Giải quyết hợp lý, đôi bên thỏa mãn
Tìm kiếm thông tin Cần thông tin Thu nhận hoặc đưa ra thông tin Trao đổi thông tin
Cân nhắc Tiến thoái lưỡng nan / lựa chọn Phối hợp và hành động Quyết định phương án tối ưu
Tranh cãi cá nhân Xung đột cá nhân Phản đối bằng lời nói Tiết lộ sự xung đột sâu hơn

Hệ thống lập luận sai cũng được phân loại thành 4 nhóm chính:

Nhóm lập luận sai Tiểu loại điển hình
Vi phạm tính quan yếu Đổi chủ đề / làm lạc hướng (tấn công cá nhân, "cá trích", đảo nghĩa vụ chứng minh, "anh cũng vậy", "hai sai thành một đúng"); Viện dẫn không quan yếu (viện uy tín, quyền lực, bạo lực, nặc danh, lòng thương, cảm giác tội lỗi, đám đông); Dẫn chứng/lí lẽ không quan yếu.
Quy trình suy luận sai Quy nạp sai (khái quát hóa vội vã, ngụy biện vòng tròn, nghịch đảo điều kiện, bằng chứng vụn vặt, "người rơm"); Nhầm lẫn tam đoạn luận (suy luận tương tự sai, thống kê sai, lập luận "đống cát/bộ râu", kết luận ẩu); Làm lạc hướng bởi lí lẽ (lí lẽ chẻ đôi, dốc trượt, lợi dụng hậu quả).
Sử dụng ngôn ngữ Thay đổi yếu tố ngôn ngữ (thêm/bớt, tăng/giảm từ ngữ); Mơ hồ ngôn ngữ (từ ngữ mơ hồ, đề tài mơ hồ, ngữ điệu mơ hồ).
Mệnh đề sai / thiếu căn cứ Suy luận từ mệnh đề sai (nguyên nhân giả "post hoc", nguyên nhân sai); Lập luận thiên lệch.

Về cơ sở thực tiễn, chương 1 trình bày địa vị pháp lý của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (quyền giám sát tối cao tại Điều 69 Hiến pháp). Phân tích bản chất của hoạt động chất vấn theo nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Sỹ Dũng: chất vấn là thủ tục giám sát nhằm "làm rõ trách nhiệm" của các chức danh được giao quyền, khác biệt về bản chất so với hỏi - đáp thông thường (thu nhận thông tin) hay thẩm vấn (làm rõ sự thật).

Chương 2: Cấu trúc nội tại của lập luận trong các lượt lời trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

Chương 2 đi sâu khảo sát cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của lập luận trong từng lượt lời riêng lẻ của đại biểu và người trả lời chất vấn.

Các phát hiện chính của chương gồm:

  1. Các thành phần lập luận:
    • Luận cứ (LC): Được xây dựng từ dữ liệu thực tế đời sống, số liệu thống kê thực chứng và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp, Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết Quốc hội, Nghị định). Luận cứ có thể hiển ngôn hoặc ngầm ẩn.
    • Lí lẽ (W): Đóng vai trò cầu nối logic giữa luận cứ và kết luận, bao gồm các quy tắc suy diễn logic (diễn dịch, quy nạp, loại suy) và các lẽ thường (topoi) trong đời sống xã hội và quản lý nhà nước.
    • Kết luận (KL): Là mục đích lập luận của lượt lời. Kết luận xuất hiện ở dạng khẳng định, phủ định, hoặc lồng ghép trong câu hỏi tu từ; có thể đứng ở vị trí đầu, giữa hoặc cuối phát ngôn.
  2. Chỉ dẫn lập luận:
    • Kết tử lập luận (KT): Khảo sát các kết tử dẫn nhập luận cứ (KTDNLC: bởi vì, vì, do, tại vì...), kết tử dẫn nhập kết luận (KTDNKL: cho nên, vì vậy, do đó, như vậy, suy ra...), kết tử 2 vị trí (KT2VT) và kết tử 3 vị trí (KT3VT: nhưng, tuy... nhưng, thế mà, vậy mà...) thể hiện quan hệ lập luận đồng hướng hoặc nghịch hướng.
    • Tác tử lập luận (TT) và Tác tử tình thái (TTTT): Các tác tử như chỉ, thậm chí, rất, không ít hơn... và các phương tiện tình thái nhận thức (chắc chắn, có lẽ, rõ ràng, thực sự...) có chức năng định hướng nghĩa, tăng cường hoặc giảm bớt sức mạnh của hành vi ở lời.
  3. Mô hình cấu trúc lập luận:
    • Dựa vào tương quan vị trí: Mô hình Luận cứ đi trước - Kết luận theo sau ($LC \rightarrow KL$), Kết luận đi trước - Luận cứ theo sau ($KL \rightarrow LC$), và Kết luận nằm xen kẽ giữa các Luận cứ.
    • Dựa vào độ phức tạp: Phân biệt giữa Tiểu lập luận (TLL - cấu trúc đơn giản gồm một cặp tiền đề - kết luận) và Đại lập luận (ĐLL - lập luận phức hợp chứa chuỗi nhiều tiểu lập luận liên kết nối tiếp hoặc song song).

Chương 2 minh họa qua các trường hợp tiêu biểu như: chất vấn về dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A (kết hợp các văn bản pháp lý về đất rừng đặc dụng và di sản Vườn quốc gia Cát Tiên làm luận cứ để chất vấn trách nhiệm quản lý) và chất vấn về kiểm soát an toàn thực phẩm (sử dụng đối lập giữa thành tựu nông nghiệp chung và thực trạng sản xuất nhỏ lẻ, mất kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật để đưa ra kết luận yêu cầu giải pháp quản lý).

Chương 3: Lập luận trong hội thoại tranh luận trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

Chương 3 mở rộng phân tích lập luận từ cấu trúc tĩnh sang sự vận động tương tác động trong hội thoại tranh biện giữa người chất vấn (đại biểu), người trả lời (Bộ trưởng, thành viên Chính phủ) và người điều hành (Chủ tịch/Phó Chủ tịch Quốc hội).

Nội dung trọng tâm gồm:

  1. Đặc điểm lập luận qua các hành vi ngôn ngữ:
    • Hành vi hỏi/chất vấn: Khảo sát các kiểu câu hỏi (câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi tu từ) và phương pháp hỏi (hỏi trực diện, hỏi kèm chứng cứ xác thực, hỏi giả định tình huống). Mục đích hỏi tập trung vào việc làm rõ trách nhiệm, chỉ ra tồn tại chính sách hoặc yêu cầu cam kết lộ trình giải quyết.
    • Hành vi trả lời chất vấn: Được đánh giá dựa trên ba tiêu chí phương châm hội thoại: tính quan yếu (trả lời trúng vấn đề), tính rõ ràng (minh bạch thông tin, không dùng từ mơ hồ) và tính đầy đủ (bao quát toàn bộ các vế hỏi, không bỏ sót nội dung). Luận án thống kê các phương pháp trả lời: giải trình nguyên nhân, viện dẫn cơ sở pháp lý, nêu giải pháp và cam kết thời hạn.
    • Hành vi điều hành của chủ tọa: Đóng vai trò duy trì trật tự hội thoại, cân bằng thời gian, nhắc nhở người trả lời đi thẳng vào trọng tâm, bảo đảm tính dân chủ và phân xử quyền phát biểu/tranh luận.
  2. Mô hình và chất lượng tranh luận:
    • Phân tích các bước chuyển biện chứng giữa các kiểu hội thoại: từ tìm kiếm thông tin sang điều tra, cân nhắc giải pháp hoặc nguy cơ chuyển sang tranh cãi cá nhân nếu thiếu kiểm soát.
    • Đánh giá chất lượng tranh luận qua việc tuân thủ 10 quy tắc Pragma-dialectics; xác định các giai đoạn vận động của một cuộc đối chất nghị trường.
  3. Nhận diện lập luận chưa thuyết phục (Lập luận sai):
    • Phát hiện các lỗi ngụy biện thường gặp trong phiên chất vấn: ngụy biện đánh tráo chủ đề/làm lạc hướng ("cá trích"), né tránh câu hỏi trực tiếp, ngụy biện dùng câu hỏi vượt cấp tiền giả định, ngụy biện viện dẫn uy tín hoặc đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan, vi phạm nghĩa vụ chứng minh.
  4. Nhận xét và đề xuất về tương tác tranh luận:
    • Nhận định xu hướng chuyển dịch tích cực từ việc đọc tham luận sang đối thoại trực tiếp, sử dụng quyền bấm nút/giơ biển tranh luận để đối chất lại câu trả lời chưa thỏa đáng.
    • Khẳng định vai trò của việc nắm vững các cấu trúc phản biện và nhận diện ngụy biện nhằm nâng cao tính minh bạch, thực chất trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và khẳng định giá trị ứng dụng của các trường phái lý thuyết lập luận hiện đại trên thế giới (Logic phi hình thức, Lý thuyết lập luận sai của Walton - Woods, Mô hình Toulmin, Ngôn ngữ học miêu tả và thuyết Đa thanh của Ducrot, Dụng học biện chứng của Eemeren - Grootendorst) vào thực tiễn nghiên cứu tiếng Việt.
  2. Đề xuất thành công khung phân tích tích hợp đa ngành (Logic học – Ngữ dụng học – Tu từ học) để khảo sát diễn ngôn chính trị - nghị trường, mở rộng hướng tiếp cận lập luận từ cấu trúc nội tại của phát ngôn sang hành vi ngôn ngữ phức hợp trong sự vận động hội thoại tranh luận.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh toàn diện, cụ thể về thực trạng sử dụng lập luận, chất vấn, trả lời chất vấn và điều hành phiên họp tại Quốc hội Việt Nam qua các khóa XI – XIV.
  2. Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá, các sơ đồ lập luận, sơ đồ lập luận chưa thuyết phục và lược đồ phản biện có thể ứng dụng trực tiếp để bồi dưỡng kỹ năng tranh biện, chất vấn cho đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
  3. Cung cấp nguồn ngữ liệu thực chứng và tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy các học phần chuyên ngành: Ngữ dụng học, Logic học, Phân tích diễn ngôn, Ngôn ngữ học xã hội và Kỹ năng tư duy phản biện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát chủ yếu trên ngữ liệu khẩu ngữ trực tiếp tại các phiên chất vấn toàn thể tại hội trường (đặc biệt là mẫu khảo sát sâu 206 lập luận thuộc khóa XIII và mở rộng đối chiếu XI – XIV); chưa có điều kiện bao quát toàn bộ các phiên thảo luận tổ, các văn bản trả lời chất vấn bằng văn bản hoặc toàn bộ các kỳ họp trong lịch sử Quốc hội.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phân tích lập luận sang các thể loại diễn ngôn chính trị – xã hội khác như diễn ngôn tranh luận tư pháp tại tòa án, diễn ngôn báo chí chính luận, hoặc diễn ngôn ngoại giao.
  • Ứng dụng các thành tựu của trí tuệ nhân tạo và xử lý ngôn ngữ tự nhiên trong việc tự động khai phá lập luận (Argumentation Mining), nhận diện tự động các lược đồ lập luận và phát hiện ngụy biện trong kho ngữ liệu văn bản nghị trường quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Thuộc các ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Việt Nam, Lý luận ngôn ngữ, Báo chí – Truyền thông, Luật học và Triết học (Logic học) trong việc tiếp cận phương pháp phân tích diễn ngôn và dụng học biện chứng.
  • Đại biểu dân cử và cán bộ cơ quan lập pháp: Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, chuyên viên văn phòng phục vụ đoàn đại biểu Quốc hội trong việc rèn luyện kỹ năng xây dựng luận cứ, nghệ thuật chất vấn, kỹ năng trả lời chất vấn đúng trọng tâm và điều hành tranh luận.
  • Người nghiên cứu và giảng dạy kỹ năng mềm / tư duy phản biện: Tham khảo hệ thống phân loại lập luận sai, bảng tiêu chí lập luận tốt và các mô hình sơ đồ hóa cấu trúc tranh biện để ứng dụng vào giảng dạy thực hành.

Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong công trình:

  • Bảng phân loại hệ thống lập luận sai và tiêu chí đánh giá lập luận tốt trong Chương 1.
  • Mô hình phân tích thành phần chỉ dẫn lập luận (kết tử, tác tử tình thái) trong Chương 2.
  • Lược đồ phân tích tương tác hội thoại và phương pháp nhận diện câu trả lời vi phạm tính quan yếu trong Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm "lập luận" theo những bình diện nào? Luận án tiếp cận lập luận đồng thời trên hai bình diện: (1) Sản phẩm của quá trình suy luận logic đi từ tiền đề (luận cứ, lí lẽ) đến kết luận trong cấu trúc nội tại của từng lượt lời (khảo sát ở Chương 2); và (2) Hành vi ngôn ngữ phức hợp trong sự vận động, tương tác của hội thoại tranh luận nhằm giải quyết bất đồng ý kiến (khảo sát ở Chương 3).

2. Khung lý thuyết tích hợp của luận án được xây dựng từ những trường phái quốc tế nào? Khung lý thuyết tích hợp của luận án kết hợp 4 trường phái chính: (1) Mô hình cấu trúc 6 thành tố của S. Toulmin; (2) Lý thuyết lập luận triệt để, kết tử/tác tử và thuyết đa thanh của O. Ducrot và J. C. Anscombre; (3) Lý thuyết dụng học biện chứng (Pragma-dialectics) với 10 quy tắc tranh luận của F. H. van Eemeren và R. Grootendorst; (4) Lý thuyết logic phi hình thức và phân loại lập luận sai (fallacies) của J. Woods, D. Walton và C. L. Hamblin.

3. Ngữ liệu nghiên cứu của luận án được lựa chọn từ nguồn nào và dung lượng mẫu khảo sát là bao nhiêu? Ngữ liệu được thu thập từ các văn bản ghi chép và băng ghi hình trực tiếp các phiên chất vấn tại Quốc hội Việt Nam từ khóa XI đến khóa XIV đăng tải trên cổng thông tin điện tử chính thức (quochoi.vn). Mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 206 lập luận (với 83 đại lập luận) tại hai phiên họp liền nhau của Quốc hội khóa XIII, kết hợp kiểm chứng qua các phiên họp khác thuộc các khóa XI, XII, XIV.

4. Thế nào là lập luận sai (ngụy biện/ngộ biện) theo cách phân loại của luận án? Theo luận án, lập luận sai (fallacy) là những lập luận vi phạm tiêu chuẩn của một lập luận tốt (về tính hiệu lực, tính vững chắc, tính rõ ràng, tính đầy đủ, tính quan yếu, tính hợp lý). Luận án chia lập luận sai thành 4 nhóm chính: lập luận sai do vi phạm tính quan yếu (đánh tráo chủ đề, tấn công cá nhân, viện dẫn không phù hợp); lập luận sai do quy trình suy luận (quy nạp sai, nhầm lẫn tam đoạn luận, dốc trượt); lập luận sai do sử dụng ngôn ngữ (mơ hồ từ ngữ, ngữ điệu); và lập luận sai do suy luận từ mệnh đề sai hoặc thiếu căn cứ.

5. Hoạt động chất vấn tại Quốc hội có bản chất và mục đích khác gì so với hỏi – đáp thông thường? Căn cứ cơ sở thực tiễn và phân tích của Nguyễn Sỹ Dũng được trích dẫn trong văn bản: hỏi – đáp thông thường có mục đích chính là thu nhận thông tin; thẩm vấn là để làm rõ sự thật; còn chất vấn tại Quốc hội là một thủ tục giám sát tối cao có tính pháp lý nhằm mục đích chính là "làm rõ trách nhiệm" của người đứng đầu các cơ quan nhà nước đối với những vấn đề thuộc phạm vi quản lý.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Diệu Thương là công trình nghiên cứu hệ thống về lập luận trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam qua các phiên chất vấn từ góc nhìn chuyên ngành Ngôn ngữ học. Bằng việc tích hợp các khung lý thuyết hiện đại về logic học, ngữ dụng học và dụng học biện chứng, công trình đã mô tả chi tiết cấu trúc nội tại của các lượt lời lập luận và phân tích sự vận động tương tác trong hội thoại tranh luận nghị trường. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp làm sáng tỏ các vấn đề lý luận ngôn ngữ học trong tiếng Việt mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn và phương pháp hữu ích nhằm nâng cao kỹ năng lập luận, chất vấn và điều hành phiên họp trên nghị trường Quốc hội.