ĐẶT VẤN ĐỀ Rắn hổ mang chúa Ophiophagus hannah (Cantor,1836 ) là loài động vật hoang dã quý hiếm, có giá trị kinh tế cao. Theo quy định tại nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30/3/2006 của chính phủ, ban hành danh mục động vật rừng, thực vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý bảo vệ. Hổ mang chúa thuộc nhóm các loài động vật hoang dã đƣợc ƣu tiên bảo tồn cao nhất tại Việt Nam (Nhóm IB). Trên thế giới Hổ mang chúa thuộc Phụ Lục II của công ƣớc về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp – CITES.
Sách Đỏ Việt Nam 2007 xếp hạng Cực kỳ nguy cấp (CR) Ngoài ý nghĩa là một mắt xích quan trọng trong cân bằng hệ sinh thái tự nhiên, Rắn hổ mang chúa còn là loài vật có giá trị văn hóa trong tín ngƣỡng tại nhiều dân tộc và có giá trị kinh tế cao. Hiện nay thị trƣờng có nhu cầu rất lớn về loại này. Vì vậy, chúng bị khai thác quá mức trong tự nhiên dẫn đến bị đe dọa tuyệt chủng. Trong bối cảnh đó, việc bảo tồn và phát triển quần thể Rắn hổ mang chúa cả trong tự nhiên và môi trƣờng nhân tạo là rất cần thiết.
Thực tế, việc gây nuôi rắn Hổ mang chúa đã đƣợc tiến hành khá phổ biến ở nhiều nơi. Do là loài có mức độ ƣu tiên bảo tồn cao nhất nên các quy định gây nuôi sinh sản rắn Hổ mang chúa rất chặt chẽ, đặc biệt là việc chứng minh quy trình nuôi sinh sản thành công cũng nhƣ nguồn con giống hợp pháp ban đầu. Do đó, các cơ sở gây nuôi đã chấp nhận việc nuôi chúng một cách bất hợp pháp. Cho đến nay, chƣa có công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về khả năng nuôi sinh sản rắn Hổ mang chúa, nên cũng chƣa có cơ sở khoa học để khẳng định về việc nuôi sinh sản, cũng nhƣ đề xuất các biện pháp quản lý loài này trong điều kiện nuôi nhốt.
Hiện tại, rắn Hổ mang chúa chủ yếu đƣợc nuôi theo mô hình nuôi sinh trƣởng (con non đƣợc săn bắt từ tự nhiên để nuôi nhốt), việc nuôi sinh trƣởng loài này đƣợc coi là bất hợp pháp. Tuy nhiên do có hiệu quả kinh tế cao hơn nuôi sinh sản nên nuôi sinh trƣởng rắn Hổ mang chúa vẫn là hình thức phổ 1 biến hiện nay. Do nhiều lý do khách quan, nguồn rắn giống trong tự nhiên sẽ trở nên khan hiếm trong tƣơng lai, vì vậy hình thức nuôi sinh sản loài rắn quý hiếm hiệu quả hơn cả về mặt kinh tế và giá trị bảo tồn và dần thay thế hình thức nuôi sinh trƣởng phổ biến nhƣ hiện nay. Việc nghiên cứu gây nuôi sinh sản loài rắn Hổ mang chúa sẽ góp phần bổ sung tƣ liệu về sinh học, sinh thái học của loài, tạo cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn chúng trong tự nhiên, cũng nhƣ quản lý các quẩn thể nuôi nhốt, quản lý đàn giống.
Vì vậy, việc nghiên cứu thực nghiệm về sinh học loài rắn Hổ mang chúa là rất cần thiết và hữu ích trong giai đoạn này, đặc biệt nếu đƣợc tiến hành tại một số làng nghề nuôi rắn truyền thống, sẽ tận dụng đƣợc nhiều kinh nghiệm của làng nghề. Hiện chỉ có một nơi đƣợc gọi là trung tâm cứu hộ động vật hoang dã tổng hợp, đó là Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và kỹ thuật bảo vệ rừng đóng tại xã Tiên Dƣợc, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Đây là trung tâm cứu hộ của Hà Nội nhƣng lại có chức năng cứu hộ động vật hoang dã trên cả nƣớc. Trung tâm cũng là đơn vị duy nhất trong cả nƣớc thực hiện chức năng cứu hộ, bảo tồn, nhân nuôi sinh sản, tổ chức nghiên cứu khoa học, tham quan, quan hệ quốc tế.
Quyết định số 4018/QĐ – UBND ngày 28/6/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc “Tổ chức lại Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và Kỹ thuật bảo vệ rừng Sóc Sơn thuộc Chi cục Kiểm lâm, thành Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội, trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Từ những lý do trên, thực hiện đề tài “ Nghiên cứu kỹ thuật nhân nuôi và chăm sóc loài rắn Hổ mang chúa Ophiophagus hannah (Cantor,1836 ) tại Trung tâm cứu hộ Sóc Sơn “. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần khẳng định khả năng gây nuôi sinh sản thành công loài rắn Hổ mang chúa tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp quản lý trại nuôi và đàn giống rắn Hổ mang chúa bố mẹ, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế, xã hội. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm chung của lớp bò sát Theo Phạm Nhật, Đỗ Quang Huy (1998) bò sát (Reptilia) là những động vật có xƣơng sống, có thân nhiệt không ổn định, thay đổi phụ thuộc vào môi trƣờng.
Bò sát có vách ngăn tâm thất chƣa hoàn chỉnh nên máu tĩnh mạch và động mạch bị pha trộn, cƣờng độ trao đổi chất thấp. Lớp bò sát thụ tinh trong, đẻ trứng, trứng có vỏ cứng, màng dai, nhiều noãn hoàng. Về cấu tạo da bò sát khô, có nhiều vẩy sừng giúp bảo vệ cơ thể chống thoát hơi nƣớc. Trên da có nhiều sắc tố làm cho da thay đổi màu sắc để tránh kẻ thù.
Bò sát hầu hết ăn động vật, một vài loài rùa ăn thực vật. Thức ăn của chúng phụ thuộc vào môi trƣờng sống. Nghiên cứu chung trên thế giới Trên thế giới, nghiên cứu về Bò sát nói chung trong đó có loài Hổ mang chúa đã đƣợc quan tâm từ lâu, song chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ phân loại. Năm 1785, Laurenti có công trình nghiên cứu đầu tiên về mô tả và phân bố các loài thuộc giống Rắn Hổ mang ( Naja), Daudin (1803) công bố kết quả khảo sát về các loài rắn thuộc giống Cạp nong (Bungarus).
Năm 1846, Gunther đã báo cáo kết quả điều tra riêng đối với các loài thuộc giống hổ chúa ( Ophiophagus). Từ năm 1924- 1944, Bourret và cộng sự tiến hành điều tra khu hệ động vật trên toàn Đông Dƣơng, trong đó có nghiên cứu Bò sát và đặt tên loài Hổ mang chúa là Naja hannah Bourret, đây là công trình mang tính hệ thống đầu tiên về phân loại học động vật hoang dã tại Đông Dƣơng và nhiều vùng của Việt Nam. Ông đã thống kê, mô tả 177 loài thằn lằn , 245 loài rắn và 171 loài ếch nhái. Giai đoạn trƣớc 1944, nhìn chung các nghiên cứu về Bò sát mới dừng lại ở phân loại và điều tra phân bố, việc đánh giá và nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái các loài còn ít đƣợc quan tâm.
Nghiên cứu về sinh học, sinh thái bò sát trong điều kiện tự nhiên đã đƣợc quan tâm trong những năm gần đây, 3 tuy nhiên nghiên cứu sâu về sinh học, sinh thái loài rắn Hổ mang chúa rất hạn chế. Peter et al (1998) công bố kết quả nghiên cứu về các loại rắn, thằn lằn của Thái Lan và Đông Nam Á, có nêu sơ bộ đặc điểm sinh học, sinh thái, sinh sản và phân bố của các loài rắn, thằn lằn, rùa, cá sấu trong khu vực, trong đó có loài rắn Hổ mang chúa và một số loài rắn độc khác. Theo tác giả, Hổ mang chúa là loài rắn lớn và độc nhất trên thế giới, tập tính hung dữ, thƣờng sống trong sinh cảnh rừng thƣa, đôi khi bắt gặp tại các khu vực gần các khu dân cƣ. Hổ mang chúa sống trong hang của các loài động vật khác đã bỏ đi, dƣới gốc các cây gỗ mục, ven sông suối, độ cao phân bố tới 2.
Thức ăn chủ yếu là các loài rắn khác, đôi khi ăn các loài thằn lằn, chuột, cóc,… Đẻ mỗi lứa 20- 51 trứng, có tập tính chuẩn bị ổ đẻ và canh trứng. Nghiên cứu về chăn nuôi rắn và rắn Hổ mang chúa nói riêng mới đƣợc quan tâm gần đây tại một số quốc gia nhƣ : Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ. Từ Phổ Hữu (2001) đã trình bày đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật chăn nuôi cho 10 loài rắn độc, trong đó có rắn Hổ mang chúa và loài rắn Hổ mang Trung Quốc, tác giả đánh giá việc nuôi rắn Hổ mang chúa tại Trung Quốc gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện khí hậu không phù hợp. Vƣơng Kiếm Bình (2002 ) có đề cập kinh nghiệm về kỹ thuật xây chuồng trại, thức ăn để chăn nuôi rắn có hiệu quả kinh tế cao của một số vùng nuôi rắn tại Trung Quốc, tuy nhiên, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu kỹ thuật nuôi loài Hổ mang Trung Quốc.
Sierra (2003) trong báo nhan đề “Ophiophagus hannah: Captive care notes” đã mô tả sơ bộ kỹ thuật nuôi rắn Hổ mang chúa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Tác giả đã đƣa ra một số ghi nhận khi nuôi rắn Hổ mang chúa : (1) Ngƣời nuôi phải có kinh nghiệm; (2) Không gian đủ rộng và điều kiện chăm sóc. Rắn Hổ mang chúa đƣợc nuôi trong chuồng gỗ có mặt kính để quan sát rắn đƣợc cho ăn chuột. Mùa sinh sản Hổ mang chúa có tập tính giao hoan, thời gian giao phối khoảng 1 giờ, giao phối 2-3 lần trong mùa sinh sản.
Con non có chiều dài trung bình 18 inchs (45,72 cm). Các con non sinh ra cũng ăn chuột nhƣ bố mẹ chúng. Theo ghi nhận tại Vƣờn thú Philadelphia zoo, Hổ mang chúa có thể ăn 12 con chuột hoặc rắn nhỏ mỗi tuần, trong điều kiện vƣờn thú có thể sống đến 26 năm, con cái đẻ 20-50 trứng, ấp trong vòng 65-80 ngày, con non mới nở dài 18-20 inchs (45,7-50,8cm) và là loài rắn thông minh nhất trong số các loài rắn nuôi tại vƣờn thú. Ngoài ra, theo nghiên cứu khác của Sean (2002) Hổ mang chúa đẻ từ 18-50 trứng/ lứa, ấp từ 70-77 ngày, con non dài từ 12-20 inchs ( 30,4-50,8cm), tuổi thọ khoảng 20 năm.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Nghiên cứu khảo sát về Bò sát ếch nhái trong đó có loài hổ mang chúa ở Việt Nam đƣợc bắt đầu từ Thế kỷ XIX, tiên phong bởi các nhà nghiên cứu phƣơng Tây nhƣ : Morice (1875) , Anderson (1878), Tirant (1885) , Boulenger (1890 ), Flower (1896), ….Các nghiên cứu trong giai đoạn này chủ yếu đi sâu về điều tra khu hệ và phân loại, xây dựng danh mục bò sát cho các vùng. Trong đó đáng chú ý là các công trình của Bourret R. và các cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944, đã thống kê và mô tả đƣợc 177 loài và loại phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loại phụ Rùa trên toàn Đông Dƣơng, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam.