CHƯƠNG 1.1 Nấm Vân Chi Trong lịch sử hàng nghìn năm của y học cổ truyền nhân loại, nấm dược liệu được coi như một phương thuốc tự nhiên được sử dụng để điều trị ung thư, nâng cao sức khoẻ và tuổi thọ của con người với niềm tin nó sẽ thúc đẩy và cung cấp sức sống [1]. Dược điển Trung Quốc cổ đại đã ghi chép hàng trăm loài nấm có giá trị dược lý và được sử dụng cho đến ngày nay. Người ta ước tính hiện có khoàng 140,000 loài nấm hiện diện trên trái đất, trong đó có khoảng 22,000 loài đã được biết tới và 10% trong số đó đã và đang được nghiên cứu ứng dụng, được chia thành 2 nhóm: nấm ăn được và nấm không ăn được [2]. Nhóm nấm ăn được có các đặc tính dược học quý và các thành phần chức năng khác bao gồm: Ganoderma lucidum, Lentinus edodes, Trametes versicolor, Schizophyllum social, Flammulina velutipes, Pleurotus ostreatus, Agaricus bisporus, Tricholoma matsutake, Auricularia auricula, Grifola frondosa, Cordyceps sinensis, Coprinus comatus, Inonotus obquus, Phellinus linteus, Laetiporus sulphureus, và Hericium erinaceus [3].
Nấm dược liệu cũng là nguồn cung cấp vitamin dồi dào, đặc biệt là thiamine (vitamin B1), riboflavin (vitamin B2), niacin, biotin và axit ascorbic (vitamin C). Ngoài ra, nấm dược liệu được chứng minh có khả năng chống oxy hoá, kháng khuẩn, ngăn ngừa ung thư và điều hoà hệ thống miễn dịch [2, 3]. Nấm Vân Chi có tên khoa học là Trametes versicolor hay còn được biết đến với tên Coriolus versicolor và Polyporus versicolor. Nấm Vân Chi trong tiếng Trung Quốc là Yun Zhi, trong tiếng Nhật là Kawaratake và trong tiếng anh là Turkey tail [4].
Trong hệ thống y học cổ truyền phương Đông, nấm Vân Chi có tác dụng tăng cường sức đề kháng, nâng cao tuổi thọ của con người, … Trước thực trạng tỉ lệ người mắc và tử vong do các bệnh lý về tim mạch, tiểu đường, béo phì, ung thư, … ngày càng tăng cao, nấm dược liệu nói chung và nấm Vân Chi nói riêng ngày càng được chú trọng nghiên cứu và ứng dụng nhằm phát hiện và khai thác các hợp chất quý giá với khả năng điều chỉnh phản ứng của các tế bào miễn dịch; giúp kích thích, tăng cường hệ thống miễn dịch và sức đề kháng tự nhiên của cơ thể. Theo hệ thống phân loại của Adl (2012), Nấm Vân Chi thuộc chi Trametes, họ Polyporaceae, bộ Polyporales, lớp Agaricomycetes, ngành Basidiomycota, giới nấm [5]. Về đặc điểm hình thái: nấm Vân Chi bao gồm quả thể nấm trưởng thành có hình nan quạt với nhiều đường vân đồng tâm, mũ nấm mỏng, phẳng hoặc hơi cong hình bán nguyệt, kích thước 1-6 x 1-10 cm, dày từ 1 – 3 mm [6]. Mũ nấm được phủ 1 lớp lông mịn, màu sắc mũ nấm đa dạng từ đen, xám đến đỏ, trắng, vàng, xanh tuỳ thuộc vào môi trường sinh sống.
Mặt dưới mũ nấm thường có màu trắng hoặc xám, chứa nhiều lỗ hay ống tròn nhỏ nhằm tăng diện tích mang bào tử, đây cũng là đặc điểm giúp dễ dàng phân biệt nấm Vân Chi với các loại nấm khác (hình 1. Thịt nấm có màu trắng hoặc kem sáng, bao gồm nhiều sợi có kích thước 1 0. Bào tử nấm Vân Chi có hình trụ, màu trắng trong suốt, nhẵn mịn, kích thước 4 - 6 x 1.1 Hình thái nấm Vân Chi A. Hình thái quả thể nấm Vân Chi B, C.
Đặc điểm hình thái mặt dưới mũ nấm D. Hình thái bào tử nấm Vân Chi Sự phát triển của nấm Vân Chi bắt đầu từ bào tử được hình thành dưới mũ nấm và phát tán tự do trong không khí. Khi gặp điều kiện thích hợp về dinh dưỡng và độ ẩm (thường trên mặt đất hoặc gỗ mục), các bào tử sẽ nảy mầm và tạo thành sợi nấm. Các sợi nấm phát triển theo mọi hướng, phát triển phân nhánh tạo thành hệ sợi.
Trong quá trình phát triển hệ sợi, sợi nấm mở rộng với tốc độ theo cấp số nhân, lan rộng ra môi trường xung quanh và bó lại với nhau tạo thành các “nút thắt”, đánh dấu giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành quả thể [8]. Quả thể Bào tử Mầm quả thể Bào tử Bào tử nảy mầm khi găọ Sợi nấm điều kiện thuận lợi Hệ sợi lan rộng “Nút thắt” liên kết các sợi nấm Hình 1.2 Chu trình sinh sản của nấm đảm [8] 2 Quá trình thu hồi quả thể nấm Vân Chi thường mất từ 1 đến 2 tháng [9]. Hệ sợi nấm Vân Chi giai đoạn đầu có màu trắng, sau đó tùy thuộc vào điều kiện môi trường và điều kiện di truyền, hệ sợi sẽ biến đổi với màu sắc đa dạng.3 Các hình thái quả thể nấm Vân Chi trong tự nhiên Trong môi trường tự nhiên, nấm Vân Chi sinh trưởng và phát triển trên môi trường rắn, thường thấy trên các thân cây gỗ mục. Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng (2021), điều kiện sinh trưởng thích hợp của nấm Vân Chi trên mùn cưa cao su và gỗ khúc keo lá tràm bao gồm: nhiệt độ sinh trưởng của hệ sợi là 26 – 30 oC, nhiệt độ sinh trưởng của quả thể là 20 – 25 oC, độ ẩm khi ươm sợi là 65 – 70% và độ ẩm để ra quả thể là 80 – 95% [9].
Trong môi trường chứa cám và rơm lúa mì, Yadav và cộng sự (1991) công bố điều kiện tối ưu để nuôi trồng quả thể nấm Vân Chi gồm: độ ẩm 55%, pH 5.5 ở 30 oC trong 21 ngày [10].4 Hình thái hệ sợi nấm Vân Chi (Trametes versicolor BRG04) trên môi trường đĩa thạch Tuy nhiên, trong công nghệ sinh học hiện đại, nhằm thu hồi các hợp chất sinh học từ nấm Vân Chi, phương pháp lên men chìm trong môi trường lỏng được ưa chuộng và ứng dụng rộng rãi hơn. Điều kiện lên men thu hồi hệ sợi nấm Vân Chi 3 được chỉ ra gồm: nhiệt độ 24 – 28 oC, thời gian lên men từ 7 – 9 ngày và thường không điều chỉnh pH [7]. Môi trường lên men chìm nấm Vân Chi yêu cầu nguồn cacbon (glucose, sucrose, maltose, cellulose, …), nitơ (peptone, cao nấm men, …), khoáng (MgSO4, KH2PO4) và một số vitamin (vitamin B1, vitamin H) đa dạng tùy thuộc vào định hướng sản phẩm [7, 11].2 Polysaccharopeptide và Polysaccharide Krestin Nấm Vân Chi có chứa nhiều hợp chất sinh học quý giá, trong đó nổi bật là 2 hợp chất: Polysaccharopeptide (PSP) và Polysaccharide Kurcha (PSK) (tên thương mại là Polysaccharide Krestin). PSP và PSK là các protein-bound polysaccharide hay còn được nhắc đến là các polysaccharide nội bào (intracellular polysaccharide – IPS) được tách chiết từ hệ sợi nấm Vân Chi [12, 13].1 Cấu trúc hóa học PSK lần đầu tiên được tách chiết ở Nhật Bản từ chủng T.
versicolor CM-101 vào cuối năm 1960, trong khi PSP được phân lập vào khoảng năm 1983 ở Trung Quốc từ chủng T. PSP và PSK có cấu trúc tương đồng nhau, bao gồm polysaccharide liên kết cộng hóa trị với peptide, trọng lượng phân tử khoảng 100 kDa. Trong các phân tử polysaccharide, các liên kết glycoside chủ yếu bao gồm: β-1,3; β-1,6; α-1,4 và α- 1,2 glycoside [7].5 Cấu trúc thành phần polysaccharide của PSK [10] Thành phần polysaccharide bao gồm 74% glucose; 4% xylose; 2. Thành phần axit amin là 0.
Điểm khác biệt giữa PSP và PSK là: trong thành phần polysaccharide của PSK có chứa fucose trong khi ở PSP có chứa rhamnose và arabinose. Tỉ lệ polysaccharide và peptide của 2 hợp chất là khác nhau với PSP chứa 90% polysaccharide và 10% protein, trong khi ở PSK là 68% polysaccharide và 38% protein [12, 14].6 Cấu trúc thành phần polysaccharide của PSP [11] 1.2 Tính chất vật lý PSP và PSK thương mại ở dạng bột màu nâu nhạt hoặc nâu sẫm, không mùi không vị, tan tốt trong nước nóng, khó tan trong nước lạnh và không tan trong các dung môi hữu cơ: methanol, pyridin, chloroform, bezen, và hexane. Hai hợp chất không có điểm nóng chảy xác định, dung dịch PSP 1% có pH trung tính 6. PSP và PSK có độ bền cao với nhiệt độ và ánh sáng, tồn tại lâu trong cơ thể, rất phù hợp cho nhiều liệu pháp điều trị.3 Hoạt tính sinh học Tác động của PSP và PSK được thể hiện qua 3 cơ chế chính, bao gồm: vô hiệu hóa các chất ức chế miễn dịch nhằm cải thiện khả năng miễn dịch của vật chủ, kích hoạt các tế bào miễn dịch và thúc đẩy quá trình tự hủy của tế bào ung thư [17, 18].
Kích thích hệ thống miễn dịch PSP và PSK được chứng minh có khả năng hoạt hoá, tăng cường sự sản sinh và bảo vệ của các tế bào miễn dịch, điều hoà hoạt động của các cytokine ngăn ngừa hình thành khối u,. Cơ chế tác động đến hệ miễn dịch của PSP được thể hiện trong hình 1.7 theo 3 con đường [17]: - PSP được nhận diện bởi thụ thể TLRs trên bề mặt tế bào T, kích thích tế bào T sản xuất cytokine (interleukin-6, interferon-γ, …) gây đáp ứng miễn dịch tế bào. - PSP bám vào các thụ thể TLR, CR3, Dectin-1 trên bề mặt đại thực bào, từ đó kích thích quá trình tấn công các tác nhân ngoại lai gây hại. - PSP tác động tới thụ thể BCR nhằm kích hoạt tế bào lympho B, từ đó tăng sinh và biệt hóa thành các dòng tế bào khác nhau như: plasma, tế bào ghi nhớ, IgM, IgG, … 5 Hình 1.78Cơ chế tác động của PSP đến hệ miễn dịch [17] Tác động của PSK tới hệ thống miễn dịch cũng được Maehara (2012) mô tả qua 3 cơ chế như sau [17]: Hình 1.87Cơ chế tác động của PSK đến hệ miễn dịch [17] - Ức chế các yếu tố gây ức chế miễn dịch như: TGF- β, IL-10, … - Kích hoạt các tế bào tiêu diệt tự nhiên (natural killer cell) bằng cách kích thích các tác nhân sản xuất cytokines.
- PSK tấn công trực tiếp tới tế bào ung thư Một nghiên cứu của Ho và cộng sự (2004) được tiến hành trên chuột đã chứng minh rằng: dịch chiết nấm Vân Chi làm tăng sinh tế bào lympho gấp 2.4 lần, đồng thời tăng khả năng sản xuất interleukin-2, interferon-γ và interleukin-12 giúp tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên và chống lại sự hình thành khối u [22]. Trước sự xuất 6 hiện của các kháng nguyên lạ, PSK cho thấy tác động kích thích sản sinh IgM theo con đường miễn dịch dịch thể theo công bố của Yoshino và cộng sự (2005) [25]. Hỗ trợ điều trị ung thư PSP và PSK có giá trị miễn dịch cao và được sử dụng như một chất hỗ trợ điều trị ung thư mà không xuất hiện tác dụng phụ, an toàn với cả phụ nữ có thai và cho con bú [26]. Các hợp chất này có khả năng điều hòa miễn dịch đối với điều trị ung thư, được sử dụng lâm sàng trong liệu pháp phối hợp cho ung thư dạ dày, ruột và ung thư phổi, ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư bạch cầu tuyến tiền liệt,.