Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm giải phẫu, sinh lý cột sống cổ Cột sống được cấu tạo từ 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5 đốt sống thắt lưng và 5 đốt sống cùng và xương cụt. Các đốt sống cổ, ngực và thắt lưng có cấu tạo tương tự nhau ngoại trừ đốt sống đầu tiên (đốt đội - C1) và đốt sống thứ hai (đốt trục - C2) [6],[10].1:Hình dạng và các đoạn của cột sống “Nguồn: Richard L. Drake (2020), Gray’s atlas of anatomy”[49] Một đốt sống “tiêu chuẩn” được cấu tạo từ thân sống, hai cuống sống, hai mảnh sống, 4 diện khớp và mỏm gai. Đốt sống C1 được cấu tạo như là một cái nhẫn, không có thân sống bởi vì đốt sống này sẽ đội lên mỏm răng của đốt sống C2 và xoay quanh mỏm[33].1 Thân sống Thân đốt sống có hình trụ, có hai mặt là mặt trên và mặt dưới, hai mặt đều hơi lõm trung tâm.
Thân đốt sống cấu tạo chủ yếu bởi mô xương xốp ở trong và một vành xương đặc ở xung quanh. Các mặt đốt sống tiếp khớp với đốt sống trên và đốt sống dưới qua đĩa gian đốt sống [14],[18],[21]. Cấu trúc thân sống bao gồm nhiều bè xương dày đặc và lớp vỏ xương vững chắc, chức năng sinh học chính là chịu tải trọng của cơ thể. Ở người lớn tuổi, có hiện tượng loãng xương làm giảm độ dày và mất mối liên kết giữa các bè xương do đó dễ bị gãy lún [20],[41].2 Cung đốt sống Cung đốt sống nằm ở phía sau thân đốt sống, có cấu tạo gồm hai cuống sống nối với thân và hai mảnh sống liên tiếp với cuống sống [56].
Cung đốt sống hợp với thân đốt sống tạo thành lỗ đốt sống. Khi các đốt sống ghéplại với nhau thành cột sống thì các lỗ đốt sống tạo thành ống sống chứa tủy sống [39]. Vậy ống sống được giới hạn bởi phía sau-ngoài là mảnh sống và dây chằng vàng, phía trước-ngoài bởi cuống sống và phía trước bởi diện sau của thân sống và đĩa đệm [57]. Mỗi cuống sống có bờ trên và bờ dưới đều lõm gọi là khuyết sống trên và khuyết sống dưới [45].
Khi hai đốt sống khớp với nhau thì các khuyết sống liên tiếp hợp thành lỗ liên hợp để rễ thần kinh cột sống đi qua. Bình thường các rễ thần kinh cổ nằm ở nửa dưới của lỗ liên hợp, nửa trên có mỡ và các tĩnh mạch nhỏ [24],[36]. Mảnh sống có hình dẹt bốn cạnh, có hai mặt là mặt trước và mặt sau, hai bờ là bờ trên và bờ dưới. Ở mặt trước của mảnh có chỗ bám của dây chằng vàng, mặt sau liên quan tới khối cơ chung [16],[57].
Khối bên nằm ở giữa mảnh sống và cuống sống, có mỏm khớp trên và mỏm khớp dưới, khớp với các mỏm khớp trên hoặc dưới tạo ra khớp gian mỏm [57].3 Các mỏm Các mỏm dính liền với thân sống, bao gồm: - Mỏm gai: Từ giữa mặt sau của cung sống, chạy ra sau và xuống dưới, mỏm gai chạy ra sau và chúc xuống dưới nhiều hay ít tùy từng đoạn làm cho đoạn đó cử động được ít hay nhiều. - Mỏm ngang: Từ chỗ nối giữa cuống sống và mảnh sống đi ngang ra ngoài, là chỗ bám của cơ và dây chằng. - Mỏm khớp: Mỗi đốt sống có 4 mỏm khớp: 2 mỏm khớp trên và 2 mỏm khớp dưới. Mỗi mỏm khớp có một diện khớp để khớp với đốt sống kế cận tạo thành khớp liên mấu, đây là khớp hoạt dịch đúng nghĩa.
Chức năng chính của chúng là duy trì sự ổn định của cột sống, giúp cột sống có thể chuyển động theo mọi hướng [18],[57].2: Một số đặc điểm đốt sống qua từng đoạn “Nguồn: Richard L.4 Đĩa đệm Đĩa đệm nằm giữa các thân đốt sống, từ thân đốt sống C2 đến xương cùng. Ở đoạn cột sống cổ và thắt lưng, chiều cao phía trước của đĩa đệm lớn hơn phía sau, làm cho cột sống đoạn này cong lồi ra trước. Ngược lại, ở cột sống đoạn ngực, chiều cao phía sau của đĩa đệm lớn hơn làm cho cột sống cong lồi ra sau. Chúng có hai vai trò quan trọng, thứ nhất là đủ chắc chắn để hỗ trợ cột sống trong quá trình chịu lực và thứ hai là đủ mềm dẻo để giúp cột sống có thể cử động (ưỡn, cúi và xoay).
Tổng chiều cao của các đĩa đệm chiếm khoảng 25-30% chiều cao của cột sống [11]. Mỗi đĩa đệm có hình thấu kính hai mặt lồi, được cấu tạo bởi ba phần:. - Vòng xơ: Là phần chu vi và được cấu tạo bởi các vòng xơ sụn đồng tâm và rất đàn hồi, trượt lên nhau nhẹ nhàng [13]. - Nhân nhày: Là phần trung tâm và được cấu tạo bởi một chất rất đàn hồi và di chuyển trong vòng sợi.
Nhân nhày thường nằm ở gần bờ sau hơn bờ trước. Nhân nhày không có mạch máu và được nuôi dưỡng nhờ sự khuếch tán từ các mạch máu ngoại vi của vòng sợi và thân đốt sống [27],[54]. Ở người trẻ tuổi khỏe mạnh, nhân nhày có thể chứa 88% là nước [23]. - Đĩa tận: Là lớp xơ sụn mỏng, dính chặt vào mặt trên và mặt dưới của thân đốt sống.
Đĩa tận có các chân bám vào mặt xương của thân đốt sống qua các lỗ nhỏ, có tác dụng nuôi dưỡng đĩa đệm theo kiểu thẩm thấu và bảo vệ đĩa đệm không bị nhiễm trùng từ xương [7].Đĩa tận và vòng xơ tạo thành bao xơ sụn, bọc lấy nhân nhày.3: Cấu tạo của đĩa đệm “Nguồn: Richard L.5 Dây chằng của cột sống Các dây chằng góp phần kết nối các thân sống và cùng với các cơ cạnh sống, chúng điều khiển và giới hạn cử động của cột sống. Dây chằng dọc sau bám ở mặt sau thân sống và đĩa đệm, kéo dài từ thân của đốt sống cổ thứ hai đến xương cùng, cấu tạo nên thành trước của ống sống. Ở các đốt sống cổ và ngực, dây chằng này rất rộng, nhưng khi đến L1, nó bắt đầu thu hẹp dần lại và đến L5 thì bề rộng còn lại một nửa [23]. Dây chằng vàng được cấu tạo từ các sợi dây chằng rất khỏe và đàn hồi, chúng ở khoảng trống giữa hai mảnh sống trên và dưới, bám vào diện trước dưới của mảnh sống trên và diện sau trên của mảnh sống dưới, ngoài ra dây chằng này còn bám vào bao khớp của khớp liên mấu.
Dây chằng vàng giúp bảo vệ cột sống khỏi tình trạng gập quá mức, đưa cột sống trở về tư thế thẳng sau khi gập, theo thời gian, dây chằng vàng có thể dày lên, cùng với các quá trình thoái hóa khác, có thể dẫn tới hẹp ống sống, chèn ép rễ thần kinh. Dây chằng dọc trước: Là một dải dây chằng bám dọc mặt trước của thân đốt sống và đĩa đệm, kéo dài từ nền xương chẩm tới xương cùng. Dây chằng dọc trước ở cột sống ngực dày và hẹp hơn ở cột sống cổ và thắt lưng. Dây chằng trên gai: Là các sợi dây chằng nối các đỉnh mỏm gai, từ đốt sống C7 cho đến đốt sống L3-L4.
Dây chằng liên gai: Là dây chằng nối giữa các mặt đối diện nhau của những mỏm gai kế cận. Phía trước, dây chằng liên gai kéo dài đến dây chằng vàng, phía sau đến dây chằng trên gai. Dây chằng liên mỏm ngang: Là dây chằng nối giữa các mỏm ngang kế cận [36],[57].4: Hệ thống một số dây chằng cột sống “Nguồn: Richard L.6 Đặc điểm các đốt sống cổ Cột sống đoạn cổ có 7 đốt sống và có một số đặc điểm chung. Mỏm gai chẻ đôi thành hai củ, mỏm ngang có lỗ gọi là lỗ ngang cho động mạch đốt sống đi qua.
Lỗ đốt sống có hình tam giác, to hơn các lỗ đốt sống của cột sống ngực. Thân đốt sống bè ngang, phía trước dày hơn phía sau. Cuống sốngtách ra từ mặt bên của thân sống. Khuyết sống trên và khuyết sống dưới sâu bằng nhau.
Mảnh sống có chiều rộng lớn hơn chiều cao, mảnh sống ở vùng cổ ngắn và mỏng hơn so với mảnh sống ở cột sống ngực và thắt lưng [19]. Mỏm khớp có diện khớp nằm ngang. Tóm lại đặc điểm để nhận diện đốt sống cổ là mỏm gai chẻ đôi và có lỗ ngang. Mặt trên thân các đốt sống cổ từ C3 tới C7 có hai mỏm nhẫn ôm thân đốt sống phía trên, gọi là khớp Luschka, có vai trò giữ đĩa đệm không lệch sang bên [15].
Cột sống cổ là đoạn mềm dẻo nhất của cột sống. Động tác cúi đạt đến mức cằm có thể chạm vào ngực, động tác ngửa đạt. đến mức ụ chẩm nằm ở tư thế nằm ngang, khi nghiêng đầu tai có thể chạm vào đầu trên xương cánh tay và khi quay, cằm có thể di chuyển từ mỏm cùng vai bên này sang mỏm cùng vai bên kia [38],[42]. Ngoài ra đốt sống C1, đốt sống C2 và đốt sống C7 có những đặc điểm riêng: - Đốt đội: Đốt sống C1 còn được gọi là đốt đội, không có thân đốt sống.
Cấu tạo của đốt đội như một vòng xương, gồm cung trước và cung sau gắn vào hai khối bên. Khối bên có hố khớp trên để khớp với lồi cầu xương chẩm và hố khớp dưới để khớp với đốt sống C2. Cung trước có phía trước lồi, tạo thành củ trước, phía sau lõm tạo thành hố răng (khớp với mỏm răng của đốt sống C2). Cung sau có phía sau lồi tạo thành củ sau.
Bờ trên của cung sau đốt sống C1 có rãnh động mạch đốt sống cho động mạch đốt sống đi qua [28]. Khoảng 5% dân số có cấu trúc cung sau đốt đội không hoàn chỉnh [17],[25]. - Đốt trục: Đốt sống C2 còn được gọi là đốt trục. Thân đốt sống C2 có một mỏm nhô lên gọi là mỏm răng.
Phía trước mỏm răng có diện khớp trước để khớp với hố răng của đốt đội, phía sau mỏm răng có diện khớp sau để khớp với dây chằng ngang của đốt đội. - Đốt sống C7: Còn được gọi là đốt sống lồi do có mỏm gai dài, không chẻ đôi, có thể sờ được ngay dưới da. Lỗ ngang rất nhỏ hoặc không có. Do nằm ở vùng ranh giới nên đốt sống C7 có những đặc điểm chuyển tiếp giữa cột sống cổ và cột sống ngực.
Khớp chẩm – đội: Là khớp hoạt dịch, cấu tạo bởi lồi cầu xương chẩm và diện khớp trên của đốt đội. Lồi cầu chẩm có hình bầu dục hoặc hạt đậu [44]. Khớp đội trục: Có ba khớp hoạt dịch giữa đốt đội và đốt trục: khớp đội trục giữa và hai khớp đội trục bên đảm bảo 50% chức năng quay của cột sống cổ [17],[44].5: Giải phẫu đốt sống C1 “Nguồn: Richard L.6: Giải phẫu đốt sống C2 “Nguồn: Richard L.2 Các kỹ thuật hình ảnh khảo sát cột sống cổ 1.