CHƯƠNG 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG VẠN PHÚC 1. Một số vấn đề về không gian văn hóa làng: Khái niệm, nội dung và tiêu chí xác định a) Khái niệm văn hóa: Khái niệm văn hóa vẫn là vấn đề mà các học giả trên thế giới luôn bàn cãi. Tùy theo góc độ tiếp cận sẽ có những định nghĩa khác nhau về văn hóa.
- Từ góc độ lịch sử: văn hóa được hiểu là sự trao truyền, kế thừa văn hóa giữa các thế hệ. - Từ góc độ giá trị chuẩn mực: văn hóa chính là lối sống, là giá trị của một cộng đồng người. - Từ góc độ nhân học: Văn hóa là sản phẩm hoạt động tinh thần của con người, phân biệt người với động vật… Văn hóa theo định nghĩa của GS. Viện Sĩ Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Xung quanh khái niệm văn hóa còn có khái niệm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể hay còn gọi là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Theo sách Culturologia1 của G. Drach thì văn hóa tinh thần “thuộc về văn hóa tinh thần có hệ tư tưởng, khoa học, đạo đức, giao tiếp tinh thần, sáng tạo nghệ thuật và tôn giáo”[tr 124 - 125] và “văn hóa tinh thần là hoạt động hướng đến sự phát triển tinh thần của con người và xã hội, sáng tạo tư tưởng, tri thức, các giá trị tinh thần – các kiểu ý thức xã hội” [tr 180]. Văn hóa vật chất, ông cũng cho rằng: “Công cụ lao động, phương tiện sản xuất, quần áo, đời sống, nhà ở, phương tiện giao thông – tất cả những gì được gọi là phương 1 G.
Drach, 2003, Văn hóa học, tr 120 - 124 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiện nhân tạo để cư trú của con người và là quá trình và kết quả của hoạt động vật chất của con người”[tr 120]. Như vậy, văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật chất trong tự nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng. Văn hóa phi vật thể là một dạng tồn tại của văn hóa dưới dạng vật thể có hình khối tồn tại trong không gian và thời gian, mà nó thường tiềm ẩn trong trí nhớ, hành vi ứng xử của con người. Thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, lao động và giao tiếp…mà nó thể hiện ra, khiến con người nhận biết được sự tồn tại của nó.
b) Khái niệm không gian văn hóa: Không gian văn hóa là một khái niệm bao gồm một phạm vi trong đó có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống với những mối quan hệ về nguồn gốc lịch sử, những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế hình thành nên những đặc trưng văn hóa chung thể hiện cả ở lĩnh vực văn hóa đảm bảo đời sống, văn hóa tâm linh cũng như các loại hình thuộc văn hóa quy phạm. Không gian văn hóa không đơn thuần là một lãnh thổ địa dư nhất định, nó là một môi trường thống nhất, rộng lớn do con người sống trong không gian ấy sáng tạo nên. Về khái niệm không gian văn hóa, theo GS.TS Ngô Đức Thịnh thì có thể hiểu không gian văn hóa theo hai ý nghĩa, cụ thể và trừu tượng. Theo ý nghĩa cụ thể, “coi văn hóa như là một không gian địa lý xác định, mà ở đó mỗi hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống.
Trong đời sống xã hội của con người, ít khi một hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại và biến đổi một cách độc lập, mà chúng thường liên kết với nhau thành những tổ hợp. Với ý nghĩa ấy, văn hóa tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa vùng, văn hóa làng, văn 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa nghề nghiệp, văn hóa đô thị, văn hóa nông thôn…đều là những dạng khác nhau của tổ hợp văn hóa”.2 Theo ý nghĩa trừu tượng, có thể hiểu không gian văn hóa như một “trường”, để chỉ một hiện tượng hay một tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một không gian (trường) văn hóa rộng hẹp khác nhau. Để xác định không gian văn hóa của một làng, một địa phương, một vùng cụ thể, ta phải xét các yếu tố đặc trưng liên quan. Đó là các yếu tố: - Tính trội văn hóa: Dân gian Việt Nam luôn có cảm nhận về tính trội trong tính cách con người, trong các sản vật thiên nhiên, trong nếp sống văn hóa giữa làng này với làng kia, vùng kia tạo nên những đặc trưng văn hóa riêng của một địa phương đó.3 - Về tên gọi “xứ”: là một vùng đất có những tương đồng nhất định phương diện phong thổ, khí hậu, dân cư và sinh hoạt văn hóa4.
Mỗi xứ có những nét văn hóa tiêu biểu. - Vùng văn hóa: là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác.5 2 Ngô Đức Thịnh (2005), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, Tr 6 3 Ngô Đức Thịnh (2005), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, Tr 46 4 Ngô Đức Thịnh (2005), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, Tr 49 5 Ngô Đức Thịnh (2005), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, Tr 10. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com c) Khái niệm văn hóa làng: Về phương diện hành chính, xã là thiết chế có tính chất pháp lý. Còn đối với người dân, người nông dân bình thường của hàng bao thế kỷ, thì người ta chỉ biết có làng.
Tập tục làng, truyền thống làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên của làng. Làng người Việt có nội hàm phong phú, đa dạng, toàn diện trên các lĩnh vực: văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, quân sự, nghệ thuật kiến trúc, lịch sử, khảo cổ, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghi thức, lễ hội… Tính chất khoa học của khái niệm văn hóa làng thể hiện ở chổ, dù phân loại theo kiểu nào người ta cũng khó có thể đồng nhất phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tâm lý, lối sống, phương thức hoạt động và ứng xử. của cộng đồng làng với các cộng đồng văn hóa khác, kể cả những cộng đồng đặc biệt gần gũi như xã, hoặc các cộng đồng theo đơn vị hành chính, xã hội hoặc tôn giáo. Vậy văn hóa làng đã hiện ra như là những khuôn thước ứng xử nằm ở tầng sâu trong đời sống cộng đồng; như là hệ thống các giá trị đặc thù qui định và ngầm điều khiển các quan hệ cộng đồng; như là sự tổng hợp của những kinh nghiệm sống hình thành qua lịch sử của các cộng đồng.
Làng, có thể nói là cộng đồng văn hóa rất riêng, nhưng cũng rất chung trong khuôn khổ của lề thói theo phương thức sản xuất châu Á. Cái riêng của từng làng thì thể hiện tương đối rõ ở từng tập tục riêng, lễ hội riêng, cách thức ứng xử riêng. Nhưng từng cái riêng ấy lại đều có một "mẫu số chung" làm nên khuôn thước văn hóa làng. Yếu tố địa lý, sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn cấu thành không gian văn hóa làng Vạn Phúc Vạn Phúc có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu thương mại, phát triển kinh tế khi nằm tiếp giáp với quốc lộ 6 - cửa ngõ trực tiếp nối quận Hà Đông với thủ đô Hà Nội và có tuyến đường tỉnh ĐT 430 (TL 72 cũ) chạy qua.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với vị trí thuận lợi như vậy, Vạn Phúc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thủ công truyền thống. Về đặc điểm địa hình, Vạn Phúc nằm ở trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình ở đây mang đặc điểm của địa hình vùng đồng bằng: địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam. Địa hình của làng được chia thành hai vùng: Vùng cao gồm các khu dân cư và các cánh đồng Mân, Sen, Bồ Các, Tháp I, Tháp II và Dộc Chuôm. Vùng thấp gồm cánh đồng Bún và cánh đồng Bồ nằm ở phía Tây Nam của làng.
Về thủy văn, làng giáp sông Nhuệ và sông đào La Khê nên việc tưới nước cho đồng ruộng do hai con sông này cung cấp. Sông ngòi là đường giao thông quan trọng để Vạn Phúc luân chuyển hàng hóa, phát triển nghề dệt cổ truyền. Làng nằm bên bờ sông Nhuệ do đó chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ thủy văn của dòng sông này.1: Mực nước lớn nhất trên sông Nhuệ (qua Hà Đông) Năm 1978 1983 1984 1985 1994 Mực nước sông Nhuệ qua 5,40 5,37 5,77 5,60 5,79 Hà Đông lớn nhất (m) Nguồn: Quy hoạch thủy lợi tỉnh Hà Tây, tháng 12-2006, Thư viện Hà Tây Về khí hậu làng mang sắc thái của kiểu khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, có mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Nhưng nhìn chung khí hậu ở đây ôn hòa hơn các địa phương khác, rất thuận lợi với điều kiện sống của con người.
Nét đặc trưng của kiểu khí hậu nhiệt đới là có lượng bức xạ mặt trời dồi dào quanh năm và có nền nhiệt độ cao, thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế. Ta có bảng số liệu nhiệt độ, không khí và độ ẩm tương đối của một số vùng: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.