đặt vấn đề là PT KUBT lành tính, nếu nghi ngờ ác tính thì tiến hành chuyển viện cho bệnh nhân. Ngay từ khi mới thành lập, bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn đã triển khai điều trị KUBT bằng PPPT [6]. Mong muốn đánh giá đầy đủ và toàn diện về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cũng nhƣ kết quả các PPPT của bệnh nhân có KUBT tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các phương pháp phẫu thuật khối u buồng trứng lành tính tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn” với mục tiêu: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các trường hợp có khối u buồng trứng lành tính được phẫu thuật tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn từ 01 tháng 07 năm 2019 đến 30 tháng 06 năm 2020. Phân tích kết quả của các phương pháp phẫu thuật khối u buồng trứng lành tính tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn. 3 C ƣơn TỔNG QUAN TÀI LIỆU. ặc điểm giải phẫu, sinh lý, mô học của buồng trứng 1.
Giải phẫu buồng trứng [8], [19] Hình 1. Giải phẫu tử cung - buồng trứng [28] - Có 2 BT nằm trong hố BT, sát thành bên chậu hông, cách eo trên 10 mm. - BT gắn vào mặt sau dây chằng rộng qua mạc treo BT, là cơ quan duy nhất trong ổ bụng không có phúc mạc bao phủ. - Hình dạng và kích thƣớc.
+ Hình dạng: BT có hình hạt thị hơi dẹt với hai mặt trong và ngoài, hai cực trên và dƣới. + Kích thƣớc: Dài 4 cm, rộng 2 cm, dày 1 cm ở ngƣời trƣởng thành. - Trọng lƣợng trung bình 6 - 8 gam. + Mặt ngoài liên quan với thành bên chậu hông, nằm trong hố BT.
Hố BT đƣợc giới hạn: 4 + Phía trên là động mạch chậu ngoài. + Phía sau là động mạch tử cung (TC). + Phía trƣớc là nơi bám của dây chằng rộng vào thành chậu hông. + Mặt trong: liên quan với vòi TC, ruột non, bên phải liên quan với ruột thừa, bên trái liên quan với đại tràng sigma [8].
- ác phƣơng tiện giữ BT tại chỗ. + Mạc treo BT: là nếp phúc mạc nối BT vào mặt sau dây chằng rộng. + Dây chằng TC - BT: nối sừng TC với cực dƣới BT cùng bên. + Dây chằng thắt lƣng - BT: đính BT vào thành bên chậu hông, bên trong có cuống mạch và thần kinh BT.
+ Dây chằng vòi - BT: đi từ loa vòi tới cực trên BT. - ộng mạch, tĩnh mạch, thần kinh. ộng mạch: BT đƣợc cung cấp máu bởi các nhánh của hai động mạch là động mạch BT và động mạch TC cùng bên. ộng mạch BT: xuất phát từ động mạch chủ bụng, dƣới nguyên ủy của động mạch thẹn và chạy trong dây chằng treo BT sau đó chia thành hai nhánh tận là động mạch BT ngoài đi vào BT và động mạch vòi TC ngoài chạy dọc phía dƣới vòi TC [8].
ộng mạch TC: tách ra các nhánh cùng để tiếp nối với các nhánh của động mạch BT. + Tĩnh mạch: đi kèm động mạch. + Thần kinh: tách từ đám rối liên mạc treo và đám rối thận đi theo động mạch BT để vào BT [8], [19]. Sinh lý học buồng trứng [9], [18] BT vừa là một tuyến ngoại tiết, vừa là tuyến nội tiết.
- Ngoại tiết: sản xuất ra noãn. Ở tuần thứ 30 của thai nhi, cả 2 BT có khoảng 6.000 nang trứng nguyên thủy. Sau đó, phần lớn chúng bị thoái hoá, chỉ còn lại khoảng 2.000 nang noãn vào lúc mới sinh và đến tuổi dậy 5 thì chỉ còn lại khoảng 300. Trong suốt thời kỳ sinh sản của phụ nữ chỉ có khoảng 400 nang này phát triển tới chín và xuất noãn hàng tháng.
Số còn lại bị thoái hóa. Trong mỗi chu kỳ kinh thƣờng chỉ có một nang noãn phát triển để trở thành nang e Graff. ƣới tác dụng của LH nang noãn chín nhanh rồi phóng noãn ra ngoài, phần còn lại của nang noãn tại BT dần dần biến thành hoàng thể. Vào cuối vòng kinh hoàng thể teo đi để lại sẹo trắng [9].
- Nội tiết: tiết ra hormon estrogen và progsteron. Sự hoạt động nội tiết này của BT chịu ảnh hƣởng của trục ƣới đồi - Tuyến yên - BT. GnRH : đƣợc bài tiết từ các tận cùng thần kinh nằm ở vùng đồi giữa, thân của những nơron này khƣ trú ở nhân cung của vùng dƣới đồi. GnRH kích thích tế bào thùy trƣớc tuyến yên bài tiết cả FSH và LH.
FSH (Hormon kích thích nang) : do tuyến yên bài tiết, kích thích các nang noãn phát triển, làm sản xuất các estrogen. LH (Hormon vàng hóa) : do tuyến yên bài tiết, LH phối hợp với FSH làm nang noãn phát triển, chín, phóng noãn. LH tạo hoàng thể và dinh dƣỡng hoàng thể. Ngoài ra nó còn kích thích nang noãn và hoàng thể tổng hợp bài tiết hormon sinh dục nữ là estrogen và progesteron [18].
Estrogen: chủ yếu do BT bài tiết – do các tế bào hạt của lớp áo trong của nang trứng bài tiết trong nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt và nửa sau do hoàng thể bài tiết. Progesteron: do BT bài tiết, ở phụ nữ không có thai, progesteron đƣợc bài tiết chủ yếu từ hoàng thể trong nửa sau của chu kì kinh nguyệt. Ở nửa đầu CKKN nang trứng và tuyến vỏ thƣợng thận bài tiết một lƣợng nhỏ progesteron. Nồng độ estrogen của ngƣời bình thƣờng trong huyết tƣơng là 158,74- 268,73 pmol/l ở nửa đầu chu kì kinh nguyệt: 236,14-325,69 pmol/l ở nửa sau của chu kì kinh nguyệt và nồng độ cao nhất vào giữa chu kì kinh nguyệt là 6 725,18-925,28pmol/l.
Nồng độ progesteron là 2,228-2,72nmol/l ở nửa đầu chu kì kinh nguyệt, trong nửa sau của chu kì kinh nguyệt, nồng độ progesteron tăng gấp 3-5 lần so với nửa đầu chu kì kinh nguyệt và vào khoảng 7,89-14,27nmol/l. Sự bài tiết 2 hormon này chịu ảnh hƣởng của nồng độ LH của tuyến yên. Khi nồng độ LH tăng sẽ kích thích các lớp tế bào lớp áo trong nang trứng bài tiết estrogen, hoàng thể sẽ đƣợc nuôi dƣỡng và tiết nhiều progesteron. Ngƣợc lại, nồng độ LH giảm thì estrogen cũng ít bài tiết và khi tuyến yên bài tiết ít LH, hoàng thể bị thoái hóa và progesteron đƣợc bài tiết ít [18].
Mô học buồng trứng [9] - Phôi thai: BT có nguồn gốc từ ụ sinh dục. - BT chia làm hai phần là vùng vỏ và vùng tủy. + Vùng tủy: ở trung tâm, hẹp. + Vùng vỏ: có hai lớp.
Biểu mô: có nguồn gốc từ biểu mô phủ mầm tuyến sinh dục. Mô liên kết: dƣới lớp biểu mô, cấu tạo bởi các tế bào sợi non hình thoi và các chất gian bào. Trong mô liên kết chứa các khối hình cầu gọi là các nang trứng ở các lứa tuổi khác nhau từ nguyên thủy tới trƣởng thành. Phân loại các khối u buồng trứng 1.
Loại lành tính Nang nƣớc: có vỏ mỏng, dịch vàng chanh, không có sùi trong hay ngoài vỏ nang. Nang bì: chứa dịch trắng đục, xƣơng , tóc và răng. Nang nhầy: chứa dịch quánh. U thể đặc chứa tổ chức đồng nhất.
Mạch máu trên bề mặt nang: 7 - Nang cơ năng: mạch máu hình san hô. - Nang thực thể: mạch máu hình răng lƣợc [10], [11], [12], [13]. Loại ác tính Vỏ nang sần sùi, có nhiều mạch máu tân tạo. Nang có nhiều thùy trong và ngoài nang.
Dính vào các tạng lân cận, vỡ. Chứa nhiều tổ chức đặc hơn lỏng [4].1 U biểu bì buồng trứng Chiếm 80% các KUBT gồm: * U nang nƣớc: lành và ác tính. * U nang nhầy: lành và ác tính. * U dạng nội mạc: lành và ác tính.
* U Brenner: lành và ác tính. * U tế bào sáng: lành và ác tính. U tế bào mầm * Dysgerminom: loại ung thƣ có tiên lƣợng tốt nhất. * Trƣởng thành (lành tính), non (ác tính) [17].
U của tổ chức đệm và dây sinh dục hay các u nội tiết * Loại nữ tính hóa: granulosa - theca, u tế bào vỏ. * Loại nam tính hóa: loại tế bào Sertoli và loại tế bào Leydig. Các khối u khác * Loại gonandoblastom (ác tính). * Loại tế bào mỡ (lành tính).
* Loại u di căn từ đƣờng tiêu hóa (Krukenberg), ung thƣ vú hay ung thƣ TC. Phân loại cụ thể 1. Nang cơ năng Sinh ra do rối loạn chức năng BT, không có tổn thƣơng giải phẫu, có nguồn gốc từ nang noãn. Là nang nhỏ, có vỏ mỏng, căng nƣớc.
Nó là kết quả của sự căng giãn của các khoang có nguồn gốc từ nang noãn hoặc nang hoàng thể. Tỷ lệ gặp chƣa thấy thống kê nhƣng trên thực tế thì gặp tƣơng đối nhiều. húng thƣờng gặp ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, đặc biệt xung quanh tuổi dậy thì và tiền mãn kinh. Nó chỉ tồn tại vài chu kỳ kinh.
Kích thƣớc thƣờng < 5cm và có thể gây rối loan kinh nguyệt [12], [13], [14]. Nang bọc noãn: xuất hiện thƣờng do rối loạn trục tuyến yên – BT, làm nang Degraff vỡ muộn, tiếp tục tiết Estrogen và lớn lên. Dịch trong nang có màu vàng chanh. húng thƣờng gặp ở một bên BT.
Kích thƣớc thay đổi từ 2- 11 cm nhƣng thƣơng không quá 8 cm, mặt nang nhẵn, thành mỏng [12], [22]. Nang hoàng tuyến: lớn hơn nang bọc noãn, gặp ở một hoặc hai bên BT, vỏ nang mỏng trong có chứa dịch lutein do sự tăng cao hCG, hay gặp ở bệnh nhân chửa trứng, hay bệnh nhân vô sinh đang điều trị hormon hƣớng sinh dục liều cao [12], [23]. Nang hoàng thể: sinh ra từ hoàng thể kinh nguyệt hoặc hoàng thể thai nghén, do hoàng thể không teo đi mà phát triển quá mức tạo thành nang. Gặp nhiều trong 3 tháng đầu thai nghén đặc biệt trong chửa đa thai, nang chế tiết nhiều estrogen và progesterone, nang thƣờng không có triệu chứng [12], [25].
U thực thể Có nhiều loại u BT nhƣng đa số là u lành tính, theo tác giả Quách Minh Hiếu (2004) tỷ lệ KUBT lành tính là 83,4% [22]. Các KUBT đƣợc chia thành 3 nhóm chính, theo phân loại WHO: u biểu mô, u tế bào mầm, u từ biểu mô đệm dây - sinh dục [4], [17]. U biểu mô BT Các khối u này bắt nguồn từ lớp biểu mô phủ BT liên tiếp với lớp trung 9 biểu mô từ khoang phúc mạc cơ thể [8], [9]. Các khối u này có mật độ xuất hiện cao, chiếm 75% các KUBT và khoảng 90% các u BT ác tính.
Các khối u biểu mô gồm: - U nang nƣớc: là u phụ khoa hay gặp nhất, chiếm trên 50% tất cả các UBT ác tính, khoảng 1/3 u này là dạng ác tính, khoảng 1/6 là ác tính thấp, và 50% là lành tính.