Chương 1: Những van dé lý luận về giải quyết tranh chấp về xác lập chủ quyền lãnh thé tại cơ quan tai phán quốc tế Chương 2: Thực tiễn việc giải quyết tranh chấp về xác lập chủ quyền lãnh thé tại các thiết chế tài phán quốc tế Chương 3: Việt Nam và việc chuẩn bị, sử dụng các bằng chứng trong các vụ kiện về tranh chấp xác lập chủ quyền lãnh thổ tại biên Đông 3 PHAN NỘI DUNG CHUONG I. NHUNG VAN DE LY LUAN VE GIAI QUYET TRANH CHAP VE XAC LAP CHU QUYEN LANH THO TAI CO QUAN TAI PHAN QUOC TE 1. Căn cứ xác lập chủ quyền lãnh thé quốc gia 1. Khái niệm liên quan đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia 1.
Khái niệm lãnh thé quốc gia Quốc gia là chủ thể chính yếu nhất của luật pháp quốc tế. Điều 1 của Công ước Montevideo quy định: “M9 quốc gia với tư cách là chủ thể của luật pháp quốc té nên có các tiêu chi sau: a) dân cư thường trú; b) lãnh thổ xác định; c) chính quyển; và da) khả năng tham gia vào quan hệ với các quốc gia khác ”!. Bên cạnh các yêu tố về dan cư, chính quyền hay khả năng tham gia vào quan hệ với các quốc gia khác thì lãnh thô được coi là một yếu tô quan trọng. Nó là cơ sở vật lý quan trọng cho sự tồn tại của một quốc gia.
Luật pháp quốc tế quy định “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của việc thụ đắc bởi một quốc gia khác bằng việc de dọa hoặc sử dung vũ lực ”°. Khoản | Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyên, thong nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vung bién va vung troi”’. Điểm a Khoản 4 Điều 1 Hiệp định giữa chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ nước cộng hòa Slovakia về khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau cũng định nghĩa lãnh thé là: “Đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là lãnh thé đất liền, các hai dao, nội thủy, lãnh hải và vùng trời phía trên đó, các vùng biển ngoài lãnh hải bao gém cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyên, quyên chủ quyên và quyên tài phan phù hợp với pháp luật quốc gia và luật pháp quốc tế. ” Như vậy, dù không hoàn toàn giống nhau, nhưng chúng ta có thê rút ra rằng: Lãnh thổ quốc gia là một phan của Trái Dat, bao gồm vùng dat, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất, thuộc chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt hoặc tuyệt đối của một quốc gia.
Lãnh thổ quốc gia là toàn vẹn và bất khả xâm phạm. ! Xem: Nguyên văn tiếng Anh: “Article 1. The state as a person of international law should possess the following qualifications: a) a permanent population; b) a defined territory; c) government; and d) capacity to enter into relations with the other states.” ? Xem: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Nghị quyết số 26/25 về các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, 1970 4 1. Khái niệm chủ quyên quốc gia Malcolm Nathan Shaw trong cuốn giáo trình Luật quốc tế dé cập rằng: “Luật pháp quốc tế được xây dựng dựa trên khái niệm quốc gia.
Quốc gia lại được đặt trên nên tảng của chủ quyên, được thể hiện như quyên lực toi cao của các thiết chế nhà nước bên trong quốc gia đó và bên ngoài quốc gia đó thể hiện là quyén lực tối cao của quốc gia với tư cách một chủ thể pháp lý. ” James Crawford cũng đưa ra định nghĩa: “Thudt ngữ 'Chủ quyén’ có rất nhiều cách sử dụng. Theo nghĩa nguyên gốc thuật ngữ này chỉ đến quyên lực tối cao bên trong một quốc gia — thuộc về vấn dé của luật hién pháp hơn là pháp luật quốc tế, và là van dé mà ở nhiều quốc gia không được xem là một van dé thực sự. Theo nguyên tắc phân chia quyên lực, không có bat kỳ thiết chế nào bên trong một quốc gia có quyên lực toàn bộ; quyên lực sẽ được phân chia, nhưng quốc gia vẫn được xem là có 'chủ quyên.
Luật pháp quốc té dé van dé phân chia quyên lực trong nội bộ quốc gia cho từng quốc gia quyết định. Luật pháp quốc tế xem mỗi quốc gia như một thực thể có chủ quyên, theo nghĩa rộng quốc gia mặc nhiên có toàn bộ thẩm quyên dé hoạt động không chỉ bên trong quốc gia mà còn ở phạm vi quốc té, dé ký kết (hoặc không ký kết) các điều ưóc quốc tế và các cam kết khác, dé quan hệ (hoặc không quan hệ) với quốc gia khác bằng nhiễu cách thức, dé đông ý (hoặc không đông ÿ) giải quyết các tranh chấp quốc tế. ”* Hai tác giả trên đã đưa ra khái niệm chủ quyền lãnh thé khá tương đồng nhau, trên cơ sở đó, ta có thể xác định chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị - pháp lý của quốc gia được thé hiện trên hai phương diện: Quyên tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thé quốc gia và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Quyên toi cao trong phạm vi lãnh thé quốc gia: trong phạm vi lãnh thé của mình, quốc gia có quyền lực chính trị tối cao.
Quyền lực chính trị tối coa này thể hiện qua các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của quốc gia; quyền quyết định mọi vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của quốc gia và các quốc gia khác không có quyền can thiệp. Quyên độc lập trong quan hệ quốc té: quốc gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại mà không bị lệ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào. Không một thực thê nào 3 Xem: Malcolm Nathan Shaw, mfernational Law, 6th ed.487 4 Xem: James Crawford, Sovereignty as a legal value, in trong James Crawford and Martti Koskenniemi, Cambridge Companion to International Law, CUP, 2012, tr.118 5 được phép chi phối hay ngăn cản các quốc gia xây dựng quan hệ hợp tác với các chủ thé khác. Tuy nhiên, việc thực hiện chủ quyền của quốc gia không được xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của chủ thể quốc tế khác.
Khái niệm thụ đắc lãnh thé Thụ đắc lãnh thổ là việc một quốc gia xác lập chủ quyền của mình đối với một vùng lãnh thô mới, hay nói cách khác, mở rộng lãnh thô hiện của của mình, thêm một vùng lãnh thé mới vào ban dé lãnh thé quốc gia của mình. Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thé là một ngành luật sớm xuất hiện và có vai trò quan trong. Các quy định về thủ đắc lãnh thổ giúp giải quyết câu hỏi làm thế nào một quốc gia có thể xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ mới một cách hợp pháp chống lại các yêu sách của các quốc gia khác. Qua lịch sử phát triển, có vẻ không có bat kỳ quốc gia nào không có biến động về lãnh thổ, và ngành luật quốc tế này sẽ hợp pháp hóa hoặc bất hợp pháp hóa các biến động này.
Hiện nay, chưa có văn bản pháp lý quốc tế nào đưa ra khái niệm cụ thê về thụ đắc lãnh thé (Territorial Acquisition). Tuy nhiên, đây là van đề được dé cập rất nhiều trong các phán quyết về tranh chấp lãnh thé của các cơ quan tài phán quốc tế. Qua đó, ““thy dac lãnh thổ” được hiểu là việc thiết lập ranh giới dia lý chủ quyén của một quốc gia đối với một vùng lãnh thổ mới theo những phương thức phù hợp với quy định của luật quốc tế `9. Lãnh thé quốc gia là toàn vẹn và bất khả xâm phạm, vì vậy việc xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thé chi được coi là hợp pháp khi dựa trên những cơ sở và phương thức do luật quốc tế quy định.
Các phương thức thụ đắc lãnh thổ quốc gia 1. Thụ đắc lãnh thé bằng phương thức chiếm cứ hữu hiệu (Occupation) Thụ đắc lãnh thé bằng chiếm hữu là phương thức phải kế đến đầu tiên, đó là sự thụ đắc một vùng lãnh thé vô chủ, không thuộc quyền của bat kỳ quốc gia nào. Trong bản ghi nhớ năm 1909 do Chính phủ Pháp gửi cho Vua Italia Emmanuel III về vụ tranh chấp dao Clipperton giữa Pháp và Mexico đã định nghĩa: “Chiém hữu là “sự năm quyên sở hữu thực sự bởi một chính phủ đôi với một lãnh thô vô chủ với ý đô > Xem: Nguyễn Thị Hồng Yến, Lê Thị Anh Đào (2020), Hướng dẫn môn học Công pháp quốc tế, Nxb. Lao động, Hà Nội, tr.16,17 5 Xem: Nguyễn Bá Dién, Ap dung các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế giải quyết hoà bình các tranhh chap ở Biển Đông, http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/737-nguyn-ba-din.
6 qua đó thụ đắc chủ quyên ” [105, tr. Qua định nghĩa đó, ta có thé thay muốn thụ đắc chủ quyền bằng phương thức chiếm hữu, quốc gia phải có hành động trên thực tế, sở hữu lãnh thô vô chủ và đồng thời phải có ý chí chiếm hữu lãnh thổ vô chủ đó. Ngày nay, trong luật pháp và tập quán quốc tế, nguyên tắc chiếm hữu dau tiên, được vận dụng dé giải quyết các tranh chấp lãnh thé, đây là căn cứ dé chứng minh hay làm cơ sở chứng minh các quyền của một quốc gia với một vùng lãnh thô nhất định. Sở di, phương thức thụ đắc lãnh thé bằng chiếm hữu không còn được sử dụng do hiện nay, các vùng lãnh thô vô chủ hầu như không còn nữa, sự thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu đã mat đi ý nghĩa ban đầu của nó.
Thụ đắc lãnh thô băng chiếm hữu chỉ được pháp luật quốc tế công nhận khi hành động chiếm hữu này phải là hành động của nhà nước. Dat vô chủ phải là đất không nam trong hệ thống địa lý hành chính của một quốc gia nào. Những vùng đất đã được biên chế chính thức vào hệ thống địa lý hành chính của một nước, dù vùng đất đó có hay không có đại điện thường trực tại chỗ của nhà nước, cũng không thé coi là đất vô chủ. Việc chiếm hữu bằng vũ lực, bằng hành động chiến tranh những vùng đất đã có chủ không bao giờ làm thay đổi được chủ quyền lãnh thô.
Thụ đắc lãnh thổ do tác động của tự nhiên (Accretion) Theo phương thức thụ đắc lãnh thổ này, một quốc gia có quyền mở rộng ranh giới địa lý của lãnh thé thông qua việc bồi đắp tự nhiên vào lãnh thổ chính hoặc do sự xuất hiện của các hòn đảo mới trong phạm vi đường biên giới quốc gia.