CHƯƠNG I: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CÁC TO CHỨC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ 1.1 Các quan niệm về chủ thể trong quan hệ dân sự Bộ luật dân sự thiết lập các nguyên tắc cơ bản chi phối toàn bộ hệ thống luật tư. Các nguyên tắc ấy phải được tôn trọng trong quá trình xây dựng các luật chuyên ngành, nham bao dam tính thống nhất về quan điểm lập pháp của một hệ thong luật. Điều này được khăng định trong luật của nhiều nước châu Âu và đang dần được khăng định trong quá trình hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam. Bộ luật dân sự được coi là căn cứ, chỗ dựa cho việc tô chức cuộc sống pháp lý tư nhân trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động.
Khi các quan hệ xã hội phát triển và trở nên phức tạp, các luật chuyên ngành được xây dựng dé đáp ứng nhu cầu điều chỉnh theo chuẩn mực chung đối với các mối quan hệ ấy; từ đó các ngành luật chuyên ngành như thương mại, lao động, sở hữ trí tuệ. mới hình thành và phát triển. Các quy phạm của Bộ luật dân sự được xác định là những quy tắc mang tính nguyên tắc, có tác dụng tạo ra khung ứng xử, khi đi vào các lĩnh vực cụ thể, những quy phạm này phải được cụ thé hóa”. Cụ thể là, trong mối quan hệ với các luật khác có liên quan, trên cơ sở xác định rõ phạm vi điều chỉnh và vị trí, vai trò của Bộ luật dân sự, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định theo hướng: (1) Đối với những quan hệ xã hội không thuộc quan hệ tư thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật; (2) Đối với các quan hệ dân sự, Bộ luật quy định các luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thé không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này; trường hợp luật khác có liên quan “không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này ' PGS.
Nguyễn Ngọc Điện (2017), Giáo trình Luật dân sự, Nxb Dai học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr 24. thì quy định của Bộ luật này được áp dụng”. Cách tiếp cận như vậy đã làm rõ hơn mỗi quan hệ giữa Bộ luật dân sự với luật khác có liên quan, tạo cơ chế pháp lý dé các co quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, áp dụng pháp luật đồng bộ, thống nhất, giúp người dân thuận lợi hơn trong việc áp dụng pháp luật khi tham gia các quan hệ xã hội có liên quan, tháo gỡ sự lúng túng hoặc tùy tiện, trong đó có hoạt động xét xử của Tòa án. Điều này còn sẽ góp phần khắc phục và hạn chế tình trạng các luật khác có liên quan (luật chuyên ngành) có những biéu hiện “thoát ly” khỏi Bộ luật dân sự.
Do đó, khi nghiên cứu quan hệ pháp luật dân sự cần phải nghiên cứu các quan hệ khác trong từng lĩnh vực cụ thé. Qua thực tiễn triển khai thi hành Bộ luật dân sự, có thê thay một trong các vướng mắc, khó khăn chính là sự chồng chéo và không tương thích, đồng nhất giữa quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thé. Đồng thời, vấn đề áp dung pháp luật nào để điều chỉnh, pháp luật nào được ưu tiên áp dụng, cách hiểu thống nhất về quy định cũng là van đề gây tranh cãi không chi trong giới nghiên cứu mà còn trong giới áp dụng pháp luật. Trong đó có vấn đề pháp luật áp dụng về chủ thể pháp luật được trao đồi, thảo luận thời gian qua.
Thứ tư, Bộ luật dân sự Việt Nam xác định chủ thé quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân và pháp nhân với tính chat là chủ thé thường xuyên, chủ yếu, đồng thời xây dựng cơ chế pháp lý xác định tư cách chủ thể khi Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan nhà nước ở địa phương, hộ gia đình, tô hợp tác và tô chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự. Khoản 1 Điều 101 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp hộ gia đình, tô hợp tác, tô chức khác không có tư cách pháp nhán tham gia quan hệ dan sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hop tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thé tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dan sự hoặc uy quyền cho người đại điện tham gia xác ldap, thực hiện giao dịch dan sự. Liên quan đến Luật đất đai, Bộ luật dân sự quy định “việc xác định chu thé cua quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng dat thực hiện theo quy định cua Luật dat đa?” (khoản 2 Điều 101 Bộ luật dân sự năm 2015). Như vậy, trong trường hợp hộ gia đình sử dụng đất được Luật đất đai công nhận là chủ thể độc lập thì khi hộ gia đình tham gia vào quan hệ dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất đó cũng được Bộ luật dân sự công nhận là chủ thê độc lập.
Bên cạnh đó, các quy định chi tiết của Bộ luật cũng cho thấy định hướng của nhà làm luật trong việc xây dựng các quy định dé đảm bảo trong các giao dich cần phải xác định được chủ thể chịu trách nhiệm, nghĩa vụ phát sinh, đó là cá nhân, pháp nhân.7 So sánh đối chiếu với Bộ luật dân sự năm 2005, bên cạnh cá nhân và pháp nhân, còn có hộ gia đình và tô hợp tác với tư cách làm chủ thể. Thời kỳ sửa đôi Bộ luật dân sự, dự thảo trình Quốc hội vào năm 2015 dé thông qua đã theo hướng không coi hộ gia đình và tổ hợp tác với vai trò là chủ thể như trước. Sau nhiều lần tranh luận, nội dung này phải xin ý kiến cấp Bộ trưởng, các chuyên gia đã đưa ra nhiều ý kiến ủng hộ theo hướng dự thảo. Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao đã từng có quyết định giám đốc thâm theo hướng hộ gia đình không là đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự (không được coi là cá nhân hay tổ chức nên không là đương sự) nên không thể khởi kiện cũng không thé bị kiện.
Tuy nhiên van dé này cũng phải dưa ra xin ý kiến đại biểu Quốc hội, Bộ Chính trị. Báo cáo tại phiên họp sự được Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến”, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cho biết, nhiều ý kiến tán thành dự thảo Bộ luật dân sự quy định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân. Trong đó, hộ gia đình, tô hợp tác, tô chức khác không có tư cách pháp nhân không phải là chủ thé của quan hệ dân sự, mà tùy thuộc vào từng quan hệ dân sự, việc tham gia của các chủ thê này thực hiện ? Bộ Tư pháp (2017), Những điểm mới cơ bản của Bộ luật dân sự năm 2015, Cuốn sách được thực hiện dưới sự hỗ trợ của Dự án JICA, Nxb Lao động, tr 57. Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dan sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, tr 45.
Anh Phương, “Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân”, Link truy cập: http://www.vn/chu-the-cua-quan-he-phap-luat-dan-su-la-ca-nhan-va-phap-nhan-265824.html, truy cập: Thứ Năm, 15/10/2015 16:16 thông qua các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác hoặc thông qua người đại diện. Tại phiên họp, ông Lý cũng giải thích đã là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự thì phải có đầy đủ quyên, nghĩa vu chủ thé, phải chịu trách nhiệm về việc tham gia quan hệ dân sự của mình. Vì vậy, chỉ có cá nhân và pháp nhân là chủ thé của quan hệ pháp luật dân sự. Qua tổng kết thi hành Bộ luật dân sự 2005 cho thấy, sự tham gia của hộ gia đình, tô hợp tác trong quan hệ dân sự thường được thực hiện thông qua các thành viên cụ thé, nhung su tham gia vào giao dich dân sự của các chủ thé này còn rat nhiều vướng mắc.
Bên cạnh đó, Tòa án Nhân dân tối cao cho biết nếu coi hộ gia đình, tô hợp tác là chủ thê của quan hệ pháp luật dân sự thì thực tiễn xét xử rất khó khăn. Cách thức xử lý hợp lý là ủy quyền cho một cá nhân đại diện. Các nước cũng chỉ quy định 2 chủ thé của pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân. Việc xác định chủ thé của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.
Tuy nhiên, cũng có quan điểm dé nghị tiếp tục quy định hộ gia đình, tổ hợp tác là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Không chỉ có Luật Đất đai, mà còn nhiều Luật khác như Nhà ở, rồi Luật Hợp tác xã. cũng đề cập đến các chủ thể này. T] năm, so sánh đối chiêu với quan điểm lập pháp được thể hiện trong Bộ luật dân sự các nước.
(1) Bộ luật dan sự Campuchia công bố ngày 08/12/2007, về phạm vi điều chỉnh cũng nhắc đến hai chủ thê chủ yếu là cá nhân và pháp nhân. Tại Điều 3 Bộ luật quy định “Luật này đưa ra những quy định về quan hệ pháp luật bình đăng giữa các cá nhân với nhau bao gồm cả pháp nhân trên cơ sở tôn trọng những suy nghĩ tự do của cá nhân. Pháp nhân công vụ trong quan hệ giao dịch cũng được coi là cá nhân”. (2) Bộ luật dân sự Nhật Bản sửa đôi gan nhất năm 2006, cũng nêu ra hai chủ thê là cá nhân và pháp nhân, đồng thời Bộ luật cũng quy định địa vị pháp lý rõ ràng cho các chủ thé khác như “1.
Không có pháp nhân nào được thành lập trừ khi nó được thành lập theo các quy định của Bộ luật này hoặc các luật khác; 2. Pháp nhân hoạt động có tính chất chuyên nghiệp, nghệ thuật, từ thiện, thờ cúng, tôn giáo hoặc các lợi ích công cộng khác, bất kỳ pháp nhân nào hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác được thành lập, tổ chức, quản lý theo quy định của pháp luật bao gồm cả Bộ luật này.” (Điều 33); “Các tô chức có mục tiêu kiếm lợi nhuận được thành lập căn cứ vào các điều kiện được quy định đối với việc thành lập các công ty thương mại.