Nghiên cứu khoa học cấp trường: Tổ chức không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự

Khám phá đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường về các tổ chức không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự, phân tích vai trò và quy định pháp lý liên quan.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Pháp luật dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Nghiên cứu khoa học cấp trường

2019

232
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỔ CHỨC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ

1.1. Các quan niệm về chủ thể trong quan hệ dân sự

1.2. Cơ sở khoa học cho sự hình thành các tổ chức không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự

1.3. Chủ thể của quan hệ dân sự

1.4. Các loại tổ chức không có tư cách pháp nhân trong quan hệ pháp luật

1.5. Căn cứ xác định thành viên của các tổ chức không có tư cách pháp nhân và xác định thành viên đại diện cho tổ chức

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ CÁC TỔ CHỨC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN

2.1. Các tổ chức không có tư cách pháp nhân trong Bộ luật dân sự năm 2015

2.2. Bất cập trong các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về các tổ chức không có tư cách pháp nhân

2.2.1. Quy định của BLDS dẫn đến cách hiểu không thống nhất về sự tồn tại của các chủ thể không có tư cách pháp nhân

2.2.2. Còn thiếu những quy định về những tổ chức không có tư cách pháp nhân khác ngoài hộ gia đình, tổ hợp tác

2.2.3. Thiếu các quy định nhận diện về chủ thể là hộ gia đình và tổ hợp tác – vốn là những chủ thể được nêu trong Bộ luật dân sự năm 2015

2.3. Bất cập trong các luật chuyên ngành khác về các tổ chức không có tư cách pháp nhân

2.3.1. Bất cập của Luật đất đai

2.3.2. Bất cập của Luật Doanh nghiệp

2.3.3. Bất cập của Luật Hôn nhân gia đình

2.3.4. Bất cập của Luật chứng khoán

3. CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỔ CHỨC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN

3.1. Kiến nghị về mối quan hệ giữa Bộ luật dân sự năm 2015 với các luật chuyên ngành khác về các tổ chức không có tư cách pháp nhân

3.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về các tổ chức không có tư cách pháp nhân

3.3. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của các luật chuyên ngành về các tổ chức không có tư cách pháp nhân nhằm thực thi quy định của BLDS năm 2015

4. CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỤ THỂ

4.1. Chuyên đề 1: Những vấn đề lý luận về chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự và chủ thể của giao dịch dân sự

4.2. Chuyên đề 2: Quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về các tổ chức không có tư cách pháp nhân

4.3. Chuyên đề 3: Quy định của các luật khác về các tổ chức không có tư cách pháp nhân trong mối quan hệ với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015

4.4. Chuyên đề 4: Thực tiễn thực hiện pháp luật về những tổ chức không có tư cách pháp nhân

4.5. Chuyên đề 5: Bất cập của quy định Bộ luật dân sự năm 2015 về các tổ chức không có tư cách pháp nhân và giải pháp

DANH SÁCH CÁC CỘNG TÁC VIÊN

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Nghiên cứu khoa học về tổ chức không có tư cách pháp nhân

Nghiên cứu khoa học cấp trường tập trung vào việc phân tích các tổ chức không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự. Đề tài này nhằm làm rõ các vấn đề pháp lý liên quan đến các tổ chức này, bao gồm quyền và nghĩa vụ của họ trong hệ thống pháp luật hiện hành. Pháp lýquy định pháp luật là hai yếu tố trọng tâm được nghiên cứu để đánh giá sự tương thích giữa Bộ luật Dân sự 2015 và các luật chuyên ngành.

1.1. Cơ sở khoa học cho sự hình thành các tổ chức không có tư cách pháp nhân

Các tổ chức không có tư cách pháp nhân được hình thành dựa trên nhu cầu thực tiễn của xã hội. Nghiên cứu pháp luật chỉ ra rằng, các tổ chức này thường xuất hiện trong các lĩnh vực như kinh doanh, hợp tác xã, và các hoạt động cộng đồng. Hệ thống pháp luật hiện hành cần có các quy định cụ thể để điều chỉnh hoạt động của các tổ chức này, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm pháp lý.

1.2. Chủ thể của quan hệ dân sự

Chủ thể của quan hệ dân sự bao gồm cá nhân, pháp nhân, và các tổ chức không có tư cách pháp nhân. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập trong việc xác định tư cách chủ thể của các tổ chức này, đặc biệt là trong các giao dịch dân sự phức tạp.

II. Quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về các tổ chức không có tư cách pháp nhân

Bộ luật Dân sự 2015 đã có những quy định cụ thể về các tổ chức không có tư cách pháp nhân, bao gồm hộ gia đình và tổ hợp tác. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, các quy định này còn nhiều bất cập, đặc biệt là trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của các tổ chức này.

2.1. Bất cập trong quy định của Bộ luật Dân sự 2015

Một trong những bất cập lớn nhất là sự thiếu đồng nhất trong việc xác định tư cách chủ thể của các tổ chức không có tư cách pháp nhân. Quy định pháp luật hiện hành chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều tranh cãi trong thực tiễn áp dụng. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan.

2.2. Bất cập trong các luật chuyên ngành

Các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, và Luật Hôn nhân gia đình cũng có những quy định liên quan đến các tổ chức không có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, nghiên cứu pháp luật cho thấy, các quy định này không đồng bộ với Bộ luật Dân sự 2015, gây ra sự chồng chéo và khó khăn trong thực thi pháp luật.

III. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các tổ chức không có tư cách pháp nhân

Để khắc phục những bất cập hiện tại, nghiên cứu khoa học đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến các tổ chức không có tư cách pháp nhân. Các kiến nghị này tập trung vào việc thống nhất quy định giữa Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành.

3.1. Kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Dân sự 2015

Cần bổ sung các quy định cụ thể về tư cách chủ thể và trách nhiệm pháp lý của các tổ chức không có tư cách pháp nhân. Đồng thời, cần làm rõ mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành để đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong hệ thống pháp luật.

3.2. Kiến nghị hoàn thiện các luật chuyên ngành

Các luật chuyên ngành cần được sửa đổi để phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Đặc biệt, cần có các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức không có tư cách pháp nhân trong các lĩnh vực cụ thể như đất đai, doanh nghiệp, và hôn nhân gia đình.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CÁC TO CHỨC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ 1.1 Các quan niệm về chủ thể trong quan hệ dân sự Bộ luật dân sự thiết lập các nguyên tắc cơ bản chi phối toàn bộ hệ thống luật tư. Các nguyên tắc ấy phải được tôn trọng trong quá trình xây dựng các luật chuyên ngành, nham bao dam tính thống nhất về quan điểm lập pháp của một hệ thong luật. Điều này được khăng định trong luật của nhiều nước châu Âu và đang dần được khăng định trong quá trình hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam. Bộ luật dân sự được coi là căn cứ, chỗ dựa cho việc tô chức cuộc sống pháp lý tư nhân trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động.

Khi các quan hệ xã hội phát triển và trở nên phức tạp, các luật chuyên ngành được xây dựng dé đáp ứng nhu cầu điều chỉnh theo chuẩn mực chung đối với các mối quan hệ ấy; từ đó các ngành luật chuyên ngành như thương mại, lao động, sở hữ trí tuệ. mới hình thành và phát triển. Các quy phạm của Bộ luật dân sự được xác định là những quy tắc mang tính nguyên tắc, có tác dụng tạo ra khung ứng xử, khi đi vào các lĩnh vực cụ thể, những quy phạm này phải được cụ thé hóa”. Cụ thể là, trong mối quan hệ với các luật khác có liên quan, trên cơ sở xác định rõ phạm vi điều chỉnh và vị trí, vai trò của Bộ luật dân sự, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định theo hướng: (1) Đối với những quan hệ xã hội không thuộc quan hệ tư thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật; (2) Đối với các quan hệ dân sự, Bộ luật quy định các luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thé không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này; trường hợp luật khác có liên quan “không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này ' PGS.

Nguyễn Ngọc Điện (2017), Giáo trình Luật dân sự, Nxb Dai học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr 24. thì quy định của Bộ luật này được áp dụng”. Cách tiếp cận như vậy đã làm rõ hơn mỗi quan hệ giữa Bộ luật dân sự với luật khác có liên quan, tạo cơ chế pháp lý dé các co quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, áp dụng pháp luật đồng bộ, thống nhất, giúp người dân thuận lợi hơn trong việc áp dụng pháp luật khi tham gia các quan hệ xã hội có liên quan, tháo gỡ sự lúng túng hoặc tùy tiện, trong đó có hoạt động xét xử của Tòa án. Điều này còn sẽ góp phần khắc phục và hạn chế tình trạng các luật khác có liên quan (luật chuyên ngành) có những biéu hiện “thoát ly” khỏi Bộ luật dân sự.

Do đó, khi nghiên cứu quan hệ pháp luật dân sự cần phải nghiên cứu các quan hệ khác trong từng lĩnh vực cụ thé. Qua thực tiễn triển khai thi hành Bộ luật dân sự, có thê thay một trong các vướng mắc, khó khăn chính là sự chồng chéo và không tương thích, đồng nhất giữa quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thé. Đồng thời, vấn đề áp dung pháp luật nào để điều chỉnh, pháp luật nào được ưu tiên áp dụng, cách hiểu thống nhất về quy định cũng là van đề gây tranh cãi không chi trong giới nghiên cứu mà còn trong giới áp dụng pháp luật. Trong đó có vấn đề pháp luật áp dụng về chủ thể pháp luật được trao đồi, thảo luận thời gian qua.

Thứ tư, Bộ luật dân sự Việt Nam xác định chủ thé quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân và pháp nhân với tính chat là chủ thé thường xuyên, chủ yếu, đồng thời xây dựng cơ chế pháp lý xác định tư cách chủ thể khi Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan nhà nước ở địa phương, hộ gia đình, tô hợp tác và tô chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự. Khoản 1 Điều 101 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp hộ gia đình, tô hợp tác, tô chức khác không có tư cách pháp nhán tham gia quan hệ dan sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hop tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thé tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dan sự hoặc uy quyền cho người đại điện tham gia xác ldap, thực hiện giao dịch dan sự. Liên quan đến Luật đất đai, Bộ luật dân sự quy định “việc xác định chu thé cua quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng dat thực hiện theo quy định cua Luật dat đa?” (khoản 2 Điều 101 Bộ luật dân sự năm 2015). Như vậy, trong trường hợp hộ gia đình sử dụng đất được Luật đất đai công nhận là chủ thể độc lập thì khi hộ gia đình tham gia vào quan hệ dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất đó cũng được Bộ luật dân sự công nhận là chủ thê độc lập.

Bên cạnh đó, các quy định chi tiết của Bộ luật cũng cho thấy định hướng của nhà làm luật trong việc xây dựng các quy định dé đảm bảo trong các giao dich cần phải xác định được chủ thể chịu trách nhiệm, nghĩa vụ phát sinh, đó là cá nhân, pháp nhân.7 So sánh đối chiếu với Bộ luật dân sự năm 2005, bên cạnh cá nhân và pháp nhân, còn có hộ gia đình và tô hợp tác với tư cách làm chủ thể. Thời kỳ sửa đôi Bộ luật dân sự, dự thảo trình Quốc hội vào năm 2015 dé thông qua đã theo hướng không coi hộ gia đình và tổ hợp tác với vai trò là chủ thể như trước. Sau nhiều lần tranh luận, nội dung này phải xin ý kiến cấp Bộ trưởng, các chuyên gia đã đưa ra nhiều ý kiến ủng hộ theo hướng dự thảo. Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao đã từng có quyết định giám đốc thâm theo hướng hộ gia đình không là đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự (không được coi là cá nhân hay tổ chức nên không là đương sự) nên không thể khởi kiện cũng không thé bị kiện.

Tuy nhiên van dé này cũng phải dưa ra xin ý kiến đại biểu Quốc hội, Bộ Chính trị. Báo cáo tại phiên họp sự được Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến”, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cho biết, nhiều ý kiến tán thành dự thảo Bộ luật dân sự quy định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân. Trong đó, hộ gia đình, tô hợp tác, tô chức khác không có tư cách pháp nhân không phải là chủ thé của quan hệ dân sự, mà tùy thuộc vào từng quan hệ dân sự, việc tham gia của các chủ thê này thực hiện ? Bộ Tư pháp (2017), Những điểm mới cơ bản của Bộ luật dân sự năm 2015, Cuốn sách được thực hiện dưới sự hỗ trợ của Dự án JICA, Nxb Lao động, tr 57. Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dan sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, tr 45.

Anh Phương, “Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân”, Link truy cập: http://www.vn/chu-the-cua-quan-he-phap-luat-dan-su-la-ca-nhan-va-phap-nhan-265824.html, truy cập: Thứ Năm, 15/10/2015 16:16 thông qua các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác hoặc thông qua người đại diện. Tại phiên họp, ông Lý cũng giải thích đã là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự thì phải có đầy đủ quyên, nghĩa vu chủ thé, phải chịu trách nhiệm về việc tham gia quan hệ dân sự của mình. Vì vậy, chỉ có cá nhân và pháp nhân là chủ thé của quan hệ pháp luật dân sự. Qua tổng kết thi hành Bộ luật dân sự 2005 cho thấy, sự tham gia của hộ gia đình, tô hợp tác trong quan hệ dân sự thường được thực hiện thông qua các thành viên cụ thé, nhung su tham gia vào giao dich dân sự của các chủ thé này còn rat nhiều vướng mắc.

Bên cạnh đó, Tòa án Nhân dân tối cao cho biết nếu coi hộ gia đình, tô hợp tác là chủ thê của quan hệ pháp luật dân sự thì thực tiễn xét xử rất khó khăn. Cách thức xử lý hợp lý là ủy quyền cho một cá nhân đại diện. Các nước cũng chỉ quy định 2 chủ thé của pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân. Việc xác định chủ thé của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.

Tuy nhiên, cũng có quan điểm dé nghị tiếp tục quy định hộ gia đình, tổ hợp tác là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Không chỉ có Luật Đất đai, mà còn nhiều Luật khác như Nhà ở, rồi Luật Hợp tác xã. cũng đề cập đến các chủ thể này. T] năm, so sánh đối chiêu với quan điểm lập pháp được thể hiện trong Bộ luật dân sự các nước.

(1) Bộ luật dan sự Campuchia công bố ngày 08/12/2007, về phạm vi điều chỉnh cũng nhắc đến hai chủ thê chủ yếu là cá nhân và pháp nhân. Tại Điều 3 Bộ luật quy định “Luật này đưa ra những quy định về quan hệ pháp luật bình đăng giữa các cá nhân với nhau bao gồm cả pháp nhân trên cơ sở tôn trọng những suy nghĩ tự do của cá nhân. Pháp nhân công vụ trong quan hệ giao dịch cũng được coi là cá nhân”. (2) Bộ luật dân sự Nhật Bản sửa đôi gan nhất năm 2006, cũng nêu ra hai chủ thê là cá nhân và pháp nhân, đồng thời Bộ luật cũng quy định địa vị pháp lý rõ ràng cho các chủ thé khác như “1.

Không có pháp nhân nào được thành lập trừ khi nó được thành lập theo các quy định của Bộ luật này hoặc các luật khác; 2. Pháp nhân hoạt động có tính chất chuyên nghiệp, nghệ thuật, từ thiện, thờ cúng, tôn giáo hoặc các lợi ích công cộng khác, bất kỳ pháp nhân nào hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác được thành lập, tổ chức, quản lý theo quy định của pháp luật bao gồm cả Bộ luật này.” (Điều 33); “Các tô chức có mục tiêu kiếm lợi nhuận được thành lập căn cứ vào các điều kiện được quy định đối với việc thành lập các công ty thương mại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu khoa học cấp trường về tổ chức không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự là một tài liệu chuyên sâu, tập trung phân tích vai trò và quy chế pháp lý của các tổ chức không có tư cách pháp nhân trong các giao dịch dân sự. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về cách thức các tổ chức này tham gia vào các quan hệ pháp luật, đồng thời chỉ ra những hạn chế và thách thức trong việc áp dụng pháp luật hiện hành. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên luật và những người quan tâm đến lĩnh vực pháp luật dân sự.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, nghiên cứu này đi sâu vào các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu và cách thức xử lý trong thực tiễn. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng dân sự trong bối cảnh thay đổi. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học hủy bỏ hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc hủy bỏ hợp đồng và các hệ quả pháp lý đi kèm.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn đa chiều về các vấn đề pháp lý dân sự, từ đó nâng cao hiểu biết và kỹ năng ứng dụng trong thực tiễn.