CHƯƠNG 1: LÝ THUYET CHUNG VE NGANH THUY SAN VÀ HOAT ĐỘNG KT- NTTS.1 Khái niệm, đặc điểmvà vai trò của hoạt động KT-NTTS.1 Khái niệm KT-NTTS. Khai thác thủy sản là “hoạ động cua con người (ngư dân) thông qua các công cụ đánh bắt như ngư thuyên, ngư cụ, nhằm khai thác NLTS `'. Từ thời xưa đến nay, con người đã biết sử dụng các loại lao, mũi tên, móc làm công cụ dé KTTS. Dé bắt được cá trong vùng: nước nông, cạn, người ta sẽ đắp bờ bằng đất bùn hoặc bang đá, có khi là dựng các tam sậy dé cá vào trong nơi bắt.
Phương tiện thời đó chỉ là những chiếc xuong mộc, cây tre ghép lại hoặc cái thing cái thuyền nhỏ xíu. Dan dan với mức sống cải thiện và khoa học kĩ thuật phát triển, các ngư cụ cũng dần phát triển và tiện tích hơn nhiều. Những chiếc thuyền chiếc phà giúp ngư dân đỡ vất vả hơn và hiệu quả khai thác tối ưu Các sản phâm của KTTS gồm: thực phẩm tiêu thụ trực tiếp của con người; nguồn giống cho NTTS và làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc và NTTS. Nuôi trông thủy sản là “ hoạt động của con người trong việc dem con giông (tự nhiên từ khai thác và nhân tạo) thả vào trong môi trường nuôi ( ao, bè, lông,.) và doi tượng nuôi này ẩượcở_ quá trình nuôi ”’ Nuôi trồng thủy sản là một hoạt động sản xuất mang tính nông nghiệp với khả năng duy trì, bô sung, tái tạo và phát triên NLTS.
NTTS nhăm cung cap lượng thực phâm cho người dân và tạo ra nguyên liệu cho hoạt động chê biên thủy sản đê xuât khẩu.2 Dac điểm của KT-NTTS. Đất đai, diện tích mặt nước. Đối tượng NTTS là các loài sinh vật sống trong môi trường nước, vì thế việc NTTS là một ngành tương khác với các ngành khác. Chỉ những khu vực nào có nước thì ở đó mới có khả năng phát triển NTTS.
Tùy thuộc vào đặc thù từng khu vực sống mà có đối tượng nuôi trồng phù hợp như việc NTTS vùng nước mặn, nước lợ, ngọt. Dat dai là cở sở để tạo ra nơi chôn, chỗ làm cho tất cả các ngành sản xuất. Trong NTTS, không chỉ cân nơi dé nuôi trông, mà còn cân diện tích mặt nước đê sử dụng SV: Khúc Thị Thùy Trang Lớp: Kinh tế quản lý TN-MT 56 cho nuôi trồng, vì vay,néu khong có đất dai, cũng như không có diện tích mặt nước thì việc NTTS không thê được tiên hành. Đối với đất có mặt nước ven bién- là vùng đất có lợi thế về mặt kinh tế nhất.
khác với loại đất có mặt nước nội địa, vùng đất này thường tập trung ở vùng ven biển nên ngoài mục đích KT-NTTS, sản xuất nông nghiệp, mà có thể khai thác trong việc sản xuất muối, lâm nghiệp như trồng rừng và bảo vệ rừng, chắn sóng chắn cát. Tuy nhiên, loại đất này cần phảu có quy hoạch cụ thể cho việc sử dụng đồng thời luôn chú trọng tới các biện pháp bảo vệ cũng như cải tạo, tái tạo lại đất. Các sinh vật thủy sản. Đối tượng của KT-NTTS là các sinh vật sống trong môi trường nước, chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu t6 từ môi trường như: thủy lý, thủy hóa, thủy sinh.
Các sinh vật thủy sản là các loại cá , tôm , cua,. Muốn KTTS hiệu quả thì cần chọn được khu vực có đặc điểm tự nhiên phù hợp dé khai thác. Muốn nuôi trồng tốt thì con người phải sản xuất ra môi trường sống thỏa mãn với những đặc điểm của từng đối tượng nuôi trồng. Các đối tượng thủy sản rất khó thích ứng với điều kiện ngoại cảnh, chỉ một sự tác động nho nhỏ của môi trường sống cũng làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của loài .Ví dụ : gió, mưa, bão, lũ lụt, hạn hán,.
gây ra thiệt hại cho vật nuôi. Vì vậy, NTTS vừa chịu sự tác động của quy luật tự nhiên và quy luật kinh tẾ. Do đó để vừa khai thác,vừa nuôi trồng là một hoạt động sản xuất rất phức tạp. KT-NTTS có tính thời vụ cao.
Qua quá trình phát triển của các loài sinh vật thủy sinh mà con người tiến hành nuôi dưỡng và chăm sóc chúng để nhằm tạo ra nguyên liệu sản phẩm phục vụ cuộc sống. Tuy nhiên KT-NTTS cũng phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, việc sinh vật sinh trưởng và phát triển mang tính thời kì cao.Do vậy thời gian lao động và thời gian sản xuất thường khác nhau dẫn tới tính thời vụ. Tính thời vụ trong KT-NTTS đã dẫn tới lúc người lao động lúc rảnh rồi nhàn hạ tới những khi bận rộn. Đặc điểm này đòi hỏi ngư dân phải hiểu biết và nắm bắt tính thời vụ Vì vậy mà việc cần tập trung nghiên cứu, xem xét các giống loài thủy sản mang thời gian sinh trưởng ngắn , thời gian phát triển nhanh chóng, giúp người dân có thêm nhiều vụ nuôi trồng trong năm.
Khai thác và nuôi trồng thủy sản có tính vùng rõ rệt. KT-NTTS được tiến hành trênkhu vực ven biển, phụ thuộc vào sự tác động của tự nhiên, dẫn tới tính khu vực được phân chia rõ rệt. Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có 10 SV: Khúc Thị Thùy Trang Lớp: Kinh tế quản lý TN-MT 56 những điều kiện về nguồn nước và thời tiết khí hậu khác nhau, việc mỗi một giống loài có thể phát triển tại quốc gia đó cũng khác nhau. Có những loài có thể chịu được điều kiện khắc nghiệt như nóng, lạnh, băng, có những loài chỉ sống được trong môi trường ôn đới, thời tiết 6n định.
Vì thé đặc điểm KT-NTTS cũng sẽ không giống nhau. Từ sự khác biệt này này, đòi hỏi các vùng, địa phương nắm bắt rõ đặc điểm tự nhiên của khu vực đê KT-NTTS hợp lý và hiệu quả.3 Vai trò của hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Đối với ngành nông nghiệp. Nông nghiệp “là ngành sản xuất vật chất cung cap cdc san pham thiét yéu cho con người như lương thực, thực phẩm, các loại sản phẩm cung cấp năng lượng”.
KT-NTTS cũng là ngành sản xuất và cung cấp các sản phẩm dinh dưỡng cho con người như cá, cua, ghẹ, tôm, mực,. Hiện nay xã hội ngày càng phát triển nhu cầu về thực phẩm dinh dưỡng ngày càng cao nên thúc day sự phát triển ngành KT NTTS. Không những chỉ cung cấp thực phẩm dành cho con người, thủy san còn là nguồn thức ăn cho chăn nuôi và nuôi trồng. Những loại tôm,cá dùng làm nguyên liệu chính cho các cơ sở chế biến thức ăn cho gia súc gia cam.
Các loại rong biển có giá trị cao dùng làm phân bón ruộng rất tốt. KT-NTTS giúp ngư dân có nguồn thức ăn,có công việc dé làm, tăng thu nhập của người dân, không chỉ làm xóa đói giảm nghèo Ở nông, thôn mà còn giúp ngư dân làm giàu, tạo điều kiện dé hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng hiện đại hóa. Phát triển hoạt động NTTS đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyền dich cơ cau ngành nông nghiệp ( tỉ trọng ngành chăn nuôi tăng lên, tỷ trọng ngành trồng trọt giảm đi). Xu hướng diện tích đất trồng trọt kém hiệu quả, thay vào đó là việc phát triển NTTS sản diễn ra và phát triển mạnh.Đối với Công nghiệp.
KT-NTTS cung cấp nguyên liệu, sản phẩm cho các ngành công nghiệp như: công nghiệp chế biến thực phâm, công nghiệp dược phẩm, công nghiệp mỹ phẩm, hóa chất,.nhưng chủ yếu sử dụng cho công nghiệp chế biến. Ngày nay ngành chế biến thủy sản ngày càng phát triển, việc cung cấp nguồn nguyên liệu thủy sản từ hoạt động khai thác và nuôi trông là yêu tô không thê thiêu đê duy trì 11 SV: Khúc Thị Thùy Trang Lớp: Kinh tế quản lý TN-MT 56 và phát triển sản xuất, chế biến thực phẩm. đã có công nghệ chế biến thủy sản thành các sản phẩm đóng gói, đem ra thị trường trong nước và ngoài nước tiêu thụ. Dé được thị trường thế giới yêu thích và ưa chuộng các sảnh phẩm thủy sản này,cần phải đảm bảo quy chuẩn về đầu vào từ các nguồn nguyên liệu này.
Do đó, việc đảm bảo chất lượng thủy sản từ quá trình khai thác, cũng như từ nuôi tròng là điều kiện thiết yếu cần có, để có đượcmột sản phẩm vừa an toàn vừa sạch. Một số loại thủy sản từ nuôi trồng có thé là nguồn nguyên liệu cho các sản phâm có giá trị cho ngành dược phẩm như: dầu cá( chế biến từ gan cá nhám), thuốc chế biến từ vỏ bào ngư hay ngọc trai, rong biển,. Và các loại vitamin A, B1,B2,D, được chế biến từ một số sản phâm thủy sản. Những nguyên liệu cho ngành mĩ nghệ được sử dụng chủ yếu từ các hoạt động NTTS như: ngọc trai, vo Vem xanh dùng làm khả xà cir,.
Dùng làm đồ trang sức hay trang trí cho các dòng nội thất khác. Đối với xuất khẩu. Xuất khâu là hoạt động nhằm thu về nguồn kinh tế lớn góp phan thúc day quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Các sản phẩm thủy sản làm phong phú thêm về mặt hàng xuất khâu.
Những mặt hàng này ngày càng được biết tới qua việc sử dụng và phân bố rộng rãi trên thị trường trong và ngoài nước, dem lại nguồn thu từ kim ngạch xuất khâu lớn. KT-NTTS càng phát triển mạnh mẽ, nguồn thủy sản càng phong phú, tạo ra một nguôn vôn tích lũy lớn đâu tư cho ngành thủy sản và các ngành kinh tê khác. Đối với bảo vệ an ninh quốc phòng, lãnh thé quốc gia. KTTS không chỉ mang lại nguồn lợi về kinh tế, việc làm cho ngư dân, mà còn được biết đến qua việc đánh dấu lãnh thổ.
Bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên vùng biển của mình, phát triển ồn định khu vực kinh tế biển đảo, bảo đảm an toàn cho các ngư dân ven biển, bảo vệ an ninh quốc phòng. Việc tăng số lượng lớn tàu đánh bắt vừa là để khai thác, vừa cung cấp nguyên liệu và tiêu dùng, vừa bảo đảm an ninh quôc phòng trên biên.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khai thác và nuôi trồng. Yếu tố tự nhiên. Tự nhiên là yếu tố cơ bản cho sự phân bồ và phát triển NLTS.
Thủy sản có khả năng sinh trưởng và phát triển trong một điều kiện tự nhiên nhất định, với các yếu tố quan trọng như: đất, nước, không khí, nhiệt độ, môi trường sống tự nhiên. Các điều kiện này 12 SV: Khúc Thị Thùy Trang Lớp: Kinh tế quản lý TN-MT 56 quyết định đến sự sinh trưởng, khả năng phát triển, khả năng nuôi trồng, tác đông tới năng suât và sản lượng thủy sản. Đất dai sử dụng trong việc NTTS tác động đến sự sống còn và phát triển của các loài thủy sản.