Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Thời gian, địa điểm và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục (LUAN.hau 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu các sông trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Trên thế giới, việc nghiên cứu các con sông chủ yếu tập trung vào đa dạng sinh học, chất lƣợng môi trƣờng, nghiên cứu quản lý tổng hợp… Trong khi đó các nghiên cứu về khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản trong bối cảnh BĐKH còn nhiều hạn chế.
Trong thời gian gần đây, hƣớng nghiên cứu về sông trên thế giới tập trung vào việc khai thác, sử dụng hợp lý, bảo vệ môi trƣờng, phòng tránh thiên tai, phục vụ phát triển bền vững KT-XH. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu là: Năm 1998, các nhà khoa học đã nghiên cứu về lựa chọn các chỉ tiêu phát triển bền vững KT-XH ở khu vực sông Fraser ở British Columbia, Canada. Đây là sông có chiều dài 1.375 km, diện tích lƣu vực 230.000 km2, dân số thuộc lƣu vực vào khoảng 2 triệu ngƣời. Cùng với sự phát triển của các hoạt động KT-XH đã dẫn đến nhiều tác động tiêu cực đến lƣu vực sông và phụ cận.
Cụ thể nhƣ sự suy thoái môi trƣờng đất do sử dụng đất nông nghiệp thiếu quy hoạch, khai thác khoáng sản; ô nhiễm môi trƣờng nƣớc từ quá trình sản xuất nông nghiệp, nƣớc thải công nghiệp và nƣớc thải sinh hoạt; sự suy giảm mực nƣớc ngầm; ô nhiễm không khí do các ngành công nghiệp và giao thông vận tải; giảm mạnh đa dạng sinh học từ sự khai thác bừa bãi. Vì vậy, để đạt đƣợc mục tiêu phát triển bền vững, trƣớc hết phải xác định các chỉ tiêu phát triển bền vững. Các chỉ tiêu phát triển KT-XH bền vững của khu vực sông Fraser bao gồm 5 chỉ tiêu (Kent R. Gustavsona và cộng sự, 1999) [70]: (1) Duy trì tính toàn vẹn và tính đa dạng của HST; (2) Đáp ứng cơ bản nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế và xã hội; (3) Duy trì sự phân bố và quyền lựa chọn giữa các thế hệ; (4) Cải thiện sự phân bố và quyền lợi giữa các thế hệ; (5) Cải thiện quyền quyết định của địa phƣơng.
Sông Seine là một con sông nổi tiếng ở Pháp. Kết quả nghiên cứu năm 2015 đã tổng hợp, phân tích và đánh giá chất lƣợng nƣớc sông Seine trong giai đoạn 1990-2013. Kết quả cho thấy, trƣớc đây, trong một thời gian dài, việc đánh giá chất lƣợng nguồn nƣớc chỉ dựa vào thành phần vật lý và hóa học của nƣớc.hau 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau Tuy nhiên, dựa trên Khung quản lý môi trƣờng nƣớc ở Châu Âu đƣợc ban hành năm 2006, bên cạnh các yếu tố vô cơ, các thành phần sinh học của HST thủy vực rất cần đƣợc đánh giá cụ thể để có thể đánh giá hiện trạng môi trƣờng nƣớc (O'Farrell và cộng sự, 2002; Hering và cộng sự, 2003; Hering và cộng sự, 2010) [77],[68],[69]. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong số các nhóm sinh vật làm sinh vật chỉ thị thì cá là nhóm sinh vật chỉ thị cho môi trƣờng NTTS vì chúng là sinh vật tiêu thụ bậc 2, 3 trong chuỗi thức ăn.
Nhóm này cũng nhạy cảm với chất lƣợng môi trƣờng nƣớc và sinh cảnh sống (Sanchez và cộng sự. Từ các kết quả nghiên cứu, nhiều HST tự nhiên của sông Seine đƣợc phục hồi, chất lƣợng nƣớc đã đƣợc cải thiện một cách đáng kể. Hà Lan là đất nƣớc có mật độ dân số cao, nhƣng 2/3 lãnh thổ nằm trong khu vực dễ ngập lụt. Hà Lan có nhiều thành tựu khoa học trong việc nghiên cứu hạn chế thiên tai, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nƣớc phục vụ phát triển bền vững KT-XH.
Từ lâu, ngƣời Hà Lan đã sử dụng các cồn cát tự nhiên, đê nhân tạo, đập và các cửa xả lũ để chống lại các cơn bão từ biển. Nhiều hệ thống đê ngăn mặn đã đƣợc quan tâm đầu tƣ xây dựng. Các chuyên gia đánh giá hiếm có nƣớc nào khai thác hiệu quả tài nguyên môi trƣờng và phát triển bền vững nhƣ Hà Lan (Rijkswaterstaat, 2009) [81]. Năm 2001, Trung Quốc đã triển khai dự án hƣớng tới sự phát triển bền vững hệ thống sông Tarim.
Sông Tarim nằm ở khu tự trị Tân Cƣơng, có tổng chiều dài khoảng 1.060 km, lƣu vực rộng 557. Đây là con sông nội địa dài nhất Trung Quốc (Feng và cộng sự, 1999) [62]. Các nghiên cứu đánh giá việc sử dụng nguồn nƣớc từ năm 1970-2000 cho thấy việc phát triển mạnh hệ thống kênh rạch đã làm gia tăng việc sử dụng nƣớc, nhƣng các kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng nƣớc lại rất thấp, chỉ đạt 35-40%. Theo kết quả nghiên cứu của Feng và cộng sự (2001) [63], chỉ trong vòng 30 năm, sự suy giảm chất lƣợng nƣớc sông đã dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học nơi đây.
Các loài cây thân thảo giảm từ 200 xuống chỉ còn 20 loài, động vật hoang dã giảm từ 24 xuống 5 loài, trong đó 9 loài đã tuyệt chủng, còn 10 loài phải di cƣ đến khu vực khác do mất nơi cƣ trú; nhiều vùng bị hoang mạc hóa, tăng lƣợng carbon trong không khí (Feng và cộng sự, 2001) [63].hau 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau Đứng trƣớc hiện trạng suy thoái nguồn nƣớc, đa dạng sinh học, nhiều công trình nghiên cứu đã đƣợc thực hiện và trên cơ sở đó đã tiến hành một số giải pháp để cải thiện sự phát triển KT-XH từ sông Tarim (Agnew và Anderson, 1992; Feng và cộng sự, 2001) [44],[63]. Các giải pháp triển khai mang lại hiệu quả cho việc phát triển bền vững lƣu vực sông Tarim nhƣ: (1) Ở vùng thƣợng lƣu, phát triển trồng rừng, phục hồi rừng đầu nguồn, điều đó đã bảo vệ và làm ổn định nguồn nƣớc, giảm thiểu thiên tai cho toàn bộ lƣu vực; (2) Ở vùng trung lƣu, các dự án phát triển nông nghiệp bền vững, chƣơng trình phục hồi các thảm thực vật ven bờ đã đƣợc thực hiện. Kết quả của các chƣơng trình này đã giảm thiểu tối đa sự hoang mạc hóa. Đồng thời, chính sách tiết kiệm nƣớc đã đƣợc áp dụng nhằm điều hòa việc cung cấp nƣớc hợp lý cho vùng hạ lƣu; (3) Ở vùng hạ lƣu, đa phần những vùng đất bị suy thoái đã đƣợc phục hồi, kéo theo sự phục hồi ĐDSH, hỗ trợ việc tăng cƣờng tái sử dụng nƣớc, tuần hoàn nƣớc trong vùng; (4) Hệ thống quản lí tài nguyên nƣớc của toàn bộ lƣu vực sông Tarim đã đƣợc thống nhất và các thông tin về thủy văn đã đƣợc chia sẻ giữa các cấp quản lí, từ địa phƣơng cho đến trung ƣơng.
Thông tin cần đƣợc cập nhật ngay khi có các nghiên cứu mới, tránh làm lãng phí thời gian và chi phí nghiên cứu. Đối với sông Mê Kông, là một trong những con sông lớn trên thế giới, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra biển Đông ở Việt Nam. Sông Mê Kông không thuộc về một quốc gia nào, vì vậy đã có một cơ quan liên chính phủ là Ủy hội sông Mê Kông (MRC) (gồm 4 nƣớc thành viên: Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia) để quản lý và phát triển. MRC đã đƣa ra chiến lƣợc phát triển lƣu vực sông Mê Kông vào phiên họp Hội đồng lần thứ 17, năm 2011 (MRC, 2015) [74].
Việc quản lý và khai thác sông Mê Kông không chỉ là nhiệm vụ của một quốc gia mà là sự quan tâm của nhiều quốc gia có liên quan. Các nghiên cứu về BĐKH ở lƣu vực sông Mê Kông cho thấy, đến năm 2050, nhiệt độ tăng trung bình 4oC, mùa mƣa tăng trung bình 1,7-5,3 oC, vào mùa khô nhiệt độ tăng từ 1,5-3,5 oC. Lƣợng mƣa hàng năm tăng 3-18% (tƣơng (LUAN.hau 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hau đƣơng 35-365mm). Cƣờng độ và tần suất của các hiện tƣợng cực đoan gia tăng nhƣ bão, lũ lụt và hạn hán.
Các biểu hiện của BĐKH ảnh hƣởng trực tiếp đến HST chủ yếu là sự thay đổi nhiệt độ, lƣợng mƣa, lũ lụt và nƣớc biển dâng. Tất cả các yếu tố này sẽ làm giảm năng suất và sản lƣợng của nhiều loài có giá trị kinh tế trên sông Mê Kông (ICEM, 2013a) [64]. Theo MRC (2015) [74], để nghề cá ở lƣu vực sông Mê Kông thích nghi với BĐKH thì cần phải phục hồi độ che phủ rừng rừng đầu nguồn và RNM, duy trì và cải thiện khả năng kết nối của môi trƣờng sống cho các loài thủy sản, thành lập các khu bảo tồn đất ngập nƣớc cho các loài thủy sinh ẩn náu vào mùa không và phục hồi vào mùa mƣa. Nhƣ vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về sông trên thế giới dựa trên các tiêu chí phát triển bền vững.
Kết quả của nhiều công trình đã phần nào giải quyết đƣợc các mâu thuẫn trong việc phát triển KT-XH, bảo vệ môi trƣờng và bảo tồn ĐDSH. Trong khi đó các nghiên cứu về các biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản còn chƣa nhiều. Ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có lƣợng mƣa nhiều trong năm. Đồng thời với địa hình chủ yếu là đồi núi (chiếm ¾ diện tích) bị cắt xẻ mạnh, sƣờn dốc lớn đã tạo nên mạng lƣới sông ngòi khá dày đặc với khoảng hơn 2.360 con sông, trong đó có 109 sông chính và 9 lƣu vực sông lớn.
Tuy nhiên, hệ thống sông phân bố không đồng đều giữa các vùng, mật độ trung bình 0,6km/km2. Ở những vùng mƣa nhiều, địa hình thuận lợi cho sinh dòng chảy mặt nhƣ Móng Cái, Hoàng Liên Sơn, Hải Vân,… có mật độ sông, suối lớn khoảng 1,5 - 2 km/km2. Vùng mƣa vừa, độ cao trung bình nhƣ Quảng Ninh, Ngân Sơn, Thu Bồn,… có mật độ sông suối trung bình 1 - 1,5 km/km2. Vùng mƣa nhỏ, bốc hơi lớn, thấm tốt nhƣ Trùng Khánh, Mộc Châu, Ninh Thuận, Bình Thuận,… có hệ thống sông ngòi kém phát triển hơn, mật độ đạt dƣới 0,3 - 0,5 km/km2 (Hoàng Ngọc Quang, 2008) [17].
Ở nƣớc ta, tiêu chí phân loại hệ thống sông thƣờng dựa trên quy mô, lƣu lƣợng chảy của dòng sông. Có thể chia thành hệ thống sông có lƣu vực nhỏ, trung bình, lớn. Với nguồn tài nguyên nƣớc dồi dào, đặc biệt là nguồn nƣớc (LUAN.hau 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.