CHƯƠNG I n TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở khoa học Sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở áp dụng một cách khoa học giữa các yếu tố giống, phân bón, nước, kỹ thuật thâm canh, đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trường. Trong đó, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu, bệnh hại, có khả năng cải tạo và bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường là mục tiêu quan trọng của việc phát triển một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao.
Đậu tương được sản xuất với các mục tiêu khác nhau. Cho nên công tác giống cần tập trung vào một số mục tiêu: - Chọn tạo giống cho năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng. - Chọn tạo giống cho chất lượng hạt tốt phục vụ ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu. - Chọn tạo giống có hàm lượng dầu cao phục vụ chương trình sản xuất dầu thực vật.
Điều kiện khí hậu, đất đai của Việt Nam rất thuận lợi cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của các loài sâu, bệnh hại. Bởi vậy, khi sản xuất cần phải áp dụng các biện pháp canh tác thích hợp, nhằm phát huy, khai thác tối đa tiềm năng năng suất của giống. Cơ sở thực tiễn n Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Hà Giang nói riêng, diện tích đất hoang hoá còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng một số loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp.
Do đó, việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết, nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hoá đất, nâng cao thu nhập cho nông dân, cải thiện đời sống cộng đồng. Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tương trên thế giới 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Trên thế giới khoảng 80% sản lượng đậu tương được sản xuất ở 4 nước là: Mỹ (52%); Brazil (17%); Achentina (10%) và Trung Quốc (10%).
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong nhữmg năm gần đây được trình bày ở bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới giai đoạn 2005- 2010 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2005 91,39 23,00 209,53 2006 92,99 23,82 221,50 2007 94,90 24,36 219,70 2008 96,87 23,84 230,95 2009 99,50 22,43 223,18 (Nguồn: FAOSTAT Database,201 [28] Số liệu bảng 1.1 cho thấy sản xuất đậu tương trên thế giới tăng lên cả về diện tích và sản lượng. Diện tích trồng đậu tương giai đoạn 2005- 2009 tăng dần từ 91,39 triệu ha năm (2005), tăng dần qua các năm và đạt 99,50 n triệu ha (năm 2009) tăng 8,11 triệu ha. Năng suất đậu tương biến động từ 22,43- 24,36 tạ/ha. Trong đó năm 2009 năng suất đậu tương thế giới đạt thấp nhất (22,43 tạ/ha) nguyên nhân là do điều kiện khí hậu biến đổi, gây hạn hán, ngập úng, sâu bệnh đã làm giảm năng suất đậu tương của thế giới.
Mặc dù năng suất đậu tương giảm nhưng diện tích tăng nhanh nên sản lượng đậu tương trên thế giới năm 2009 vẫn đạt 223,18 triệu tấn. Trước năm 1970 chỉ có Mỹ và Trung Quốc là hai nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới. Tốc độ phát triển đậu tương ở Mỹ nhanh hơn Trung Quốc. Sản lượng đậu tương của Mỹ trên thế giới tăng từ 60% năm 1960 lên đỉnh cao là 75% năm 1969, trong khi sản lượng đậu tương của Trung Quốc giảm từ 32% xuống 16% trong cùng thời kỳ.
Tình hình sản xuất đậu tương ở Mỹ giai đoạn 2005- 2009. Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2005 28,83 28,91 83,36 2006 30,19 29,03 87,66 2007 29,33 22,77 66,77 2008 29,93 28,60 85,74 2009 28,84 28,72 82,82 (Nguồn: FAOSTAT Database,2011) ) [28] Trong vòng 5 năm trở lại đây diện tích đậu tương của Mỹ có sự giảm xuống đáng kể từ 30,19 triệu ha năm 2006 xuống 28,84 triệu ha năm 2009, sản lượng đạt cao nhất năm 2006 đạt trên 87 triệu tấn, đây là năm mà nước Mỹ đạt đỉnh cao cả về diện tích cũng như năng suất và sản lượng, khẳng định vị trí số một của mình về sản xuất đậu tương. Tới năm 2009 năng suất đậu tương của Mỹ giảm gần 1 tạ/ha so với năm 2006, do đó sản lượng đậu tương giảm còn 82,82 triệu tấn. n Braxin là nước đứng thứ 2 ở châu Mỹ và cũng đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương.
Năm 2000, Braxin sản xuất đậu tương chiếm 18,5% về diện tích và 20,1% về sản lượng trên thế giới. Tình hình sản xuất đậu tương của Brazil trong 5 năm gần đây được trình bày ở 1. Tình hình sản xuất đậu tương ở Brazil giai đoan 2005- 2009 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2005 22,94 22,30 51,18 2006 22,04 23,79 52,46 2007 18,52 28,08 52,02 2008 21,52 23,14 49,79 2009 22,89 21,92 50,19 (Nguồn: FAOSTAT Database,2011) ) [28] Năm 2009, diện tích trồng đậu tương của Braxin giảm khoảng 0,05 triệu ha so với năm 2005. Năn suất đạt 21,92 tạ/ha giảm 0,38 tạ/ha kéo theo sản lượng giảm gần 1 triệu tấn so với năm 2005.
Đậu tương ở Braxin hầu hết được dùng làm bột và ép dầu. Chính phủ Braxin khuyến khích đẩy mạnh công nghiệp chế biến trong nước và xuất khẩu khô dầu, bột đậu. Quốc gia đứng thứ ba sau Mỹ và Braxin về sản xuất đậu tương là Achentina. Tại quốc gia này đậu tương thường được trồng luân canh với lúa mì.
Từ năm 1961- 1962 chính phủ đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương, nên cây đậu tương được phát triển khá mạnh. Cũng nhờ vào chính sách hỗ trợ mà diện tích trồng và sản lượng được tăng đều hàng năm. Tình hình sản xuất đậu tương của Achentina được thể hiện ở bảng sau Bảng 1. Tình hình sản xuất đậu tương của Achentina Giai đoạn 2005- 2009 n Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2005 14,032 27,28 38,300 2006 15,130 26,80 40,460 2007 15,981 29,71 47,482 2008 16,387 28,21 46,238 2009 16,767 18,48 30,993 (Nguồn: FAOSTAT Database,2011) ) [28] Năm 2009 diện tích trồng đậu tương của Achentina tăng khoảng 4 triệu ha so với năm 2005, nhưng năng suất lại giảm đáng kể từ 27,28 tạ/ha xuống còn 18,48 tạ/ha kéo theo sản lượng giảm 8 triệu tấn so với năm 2005.
Các nước nhập khẩu đậu tương lớn gồm có: Cộng đồng kinh tế châu Âu, Đức, Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ. Cho tới sau chiến tranh thế giới thứ hai thì Mỹ và Trung Quốc vẫn là hai Quốc gia đứng đầu về xuất khẩu đậu tương. Tuy nhiên, do dân số của Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ nên từ một Quốc gia xuất khẩu nhất nhì thế giới mà Trung Quốc lại dần trở thành Quốc gia nhập khẩu lớn nhất thế giới để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Mỗi năm Trung Quốc cần 25 - 30 triệu tấn, trong khi đó sản xuất trong nước mới đạt 15 - 17 triệu tấn (Lê Hưng Quốc, 2006) [9].
Tình hình sản xuất đậu tương ở Trung Quốc được trình bày ở bảng 1. Tình hình sản xuất đậu tương ở Trung Quốc giai đọan 2005- 2009 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) n 2005 9,593 17,04 16,350 2006 9,304 16,66 15,500 2007 8,753 14,54 12,725 2008 9,127 17,03 15,545 2009 9,190 16,30 14,981 (Nguồn: FAOSTAT Database,2011) [28] Trong vòng 5 năm 2005- 2009 diện tích sản xuất đậu tương của Trung Quốc tương đối ổn định, năm 2009 diện tích giảm so với năm 2005 gần 400.000 ha nhưng năng suất vẫn đạt 16,30 tạ/ha. Diện tích sản xuất đậu tương giảm kéo theo sản lượng cũng giảm đáng kể từ 16,350 triệu tấn năm 2005 xuống còn 14,981 triệu tấn năm 2009 giảm trên 1 triệu tấn. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới Hiện nay nguồn gen đậu tương được lưu giữ ở 15 nước trên thế giới: Đài Loan, Australia, Trung Quốc, Pháp, Nigeria, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan, Mỹ và Liên Xô (cũ) với tổng số 45.
Thí nghiệm quốc tế về đánh giá giống đậu tương thế giới (ISVEX) lần thứ nhất vào năm 1973 đã tiến hành với quy mô là 90 điểm thí nghiệm được bố trí ở 33 nước đại diện cho các đới môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trong phạm vi các địa điểm thí nghiệm từ xích đạo đến vĩ tuyến 300 và độ cao dưới 500m, năng suất trung bình và trọng lượng hạt giảm khi vĩ tuyến tăng. Tuy vậy, chiều cao cây không đạt mức tối ưu ở tất cả các đới. Mức đổ cây giảm khi vĩ tuyến tăng.
Mức tách quả rụng hạt đều không nặng ở tất cả các đới (Hoàng Văn Đức, 1982) [6]. Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á (AVRDC) đã thiết lập hệ thống đánh giá (Soybean- Evaluation trial- Aset) giai đoạn 1 đã phân phát được trên 20.000 giống đến 546 nhà khoa học của 164 nước Nhiệt Đới và Á Nhiệt Đới. Kết quả đánh giá giống của Aset với các giống đậu tương là n đã đưa vào trong mạng lưới sản xuất được 21 giống ở trên 10 quốc gia (Nguyễn Thị Út, 2006) [16]. Mỹ là quốc gia luôn đứng đầu về năng suất và sản lượng đậu tương đã tạo ra nhiều giống đậu tương mới.000 mẫu giống đậu tương thu thập từ các nước trên thế giới.
Mục tiêu của công tác chọn tạo giống đậu tương của Mỹ là chọn ra những giống có khả năng thâm canh, phản ứng với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản và dễ chế biến (Johnson H. Trung Quốc trong những năm gần đây đã tạo ra nhiều giống đậu tương mới. Bằng phương pháp đột biến thực nghiệm đã tạo ra nhiều giống Tiefeng 18 do sử lý bằng tia gama có khả năng chịu được phèn cao, không đổ, năng suất cao, phẩm chất tốt. Giống Heinoum N06, Heinoum N016 xử lý bằng tia gama có hệ rễ tốt,lóng ngắn, nhiều cành, chịu hạn, khả năng thích nghi rộng.
Tại viện hàn lâm khoa học Tilin– Trung Quốc, Liu X.H (1990) [31] khi phân tích khả năng kết hợp và di truyền của hàm lượng Protein, dầu và thành phần của chúng ở F2.