CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU 1. Tổng quan về qua thanh long & Việt Nam Thanh long (hay còn gọi là Pitaya theo tên Mỹ La Tỉnh) đã có từ rất lâu nhưng mới chỉ được biết đến rộng rãi trên thị trường thế giới trong những thập niên gần đây. Ba giống thanh long chính thường được trồng cho mục đích thương mại là thanh long vỏ do ruột trắng (Hylocereus undatus), thanh long vo do ruột do (Hylocereus costaricensis), và thanh long vỏ vàng ruột trang (Hylocereus megalanthus). Thanh long đã được người Pháp du nhập vào Việt Nam cách day hon 100 năm [5].
Việt Nam hiện trồng chủ yếu là sản phẩm thanh long vỏ đỏ ruột trang. thanh long vỏ đỏ ruột đỏ giống Đài Loan hoặc giống Long Dinh 1 cũng bắt đầu được trồng thử nghiệm tại một số vùng và được ưa chuộng do sản lượng tốt hơn, màu sắc đẹp hơn nhưng diện tích vẫn còn hạn chế, không đáng kế so với diện tích thanh long vỏ đỏ ruột trắng. Ngoài ra, Viện Cây ăn quả Miền Nam cũng mới lai tạo thành công giống thanh long Long Định 5 có vỏ đỏ ruột tím hồng và rất nhiều tính năng ưu việt như năng suất cao, chất lượng tốt, ít nhiễm côn trùng, bệnh hại và đặc biệt là có màu sắc đẹp. Tuy nhiên, giống này cũng chỉ mới đưa vào sản xuất thử vào năm 2012.
Việt Nam là một trong những nước có diện tích và sản lượng thanh Long lớn nhất Châu Á và là nước xuất khẩu thanh Long lớn nhất thế giới (Công ty T&C, 2012).700 ha diện tích trồng thanh long với tông san lượng đạt 520. Thanh long hiện đang được trồng ở 30 tỉnh/thành của Việt Nam nhưng đặc biệt phát triển ở các vùng chuyên canh quy mô lớn như Bình Thuận, Tiên Giang và Long An (Vinafruits, 2013). Ba tỉnh này chiếm 93,6% tổng diện tích thanh long cả nước và chiếm đến 95 5% tong sản lượng. Trong đó, Binh Thuan là nơi có diện tích và sản lượng thanh long lớn nhất (chiếm 73,2% về diện tích và 76,9% về sản lượng); kế đến là Tiền Giang (10,9% về diện tích và 10,9% về sản lượng) và đứng thứ ba là Long An (9,5% về diện tích và 8,1 % về sản lượng).
Do sản xuất và tiêu thụ thanh long đạt hiệu quả kinh tế cao trong 3 năm trở lại đây nên diện tích canh tác tăng rất nhanh (Bình Thuận tăng 143%, Tiền Giang 169% và Long An tăng 190% năm 2013 so với năm 2011). Một số tỉnh phía Bắc, Trà Vinh và Vĩnh Long cũng đã bắt đầu trồng và thu hoạch thanh long nhưng tỷ trọng thấp (64%) (Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn các tỉnh Bình Thuận, Tiền Giang và Long An, 2013). 1: Diện tích và sản lượng thanh long tại Việt Nam [6]. Diện tích % SO VỚI cả Sản lượng % SO VỚI cả Dia phương , k , (ha) nuoc (tan) nuoc Ca nước 28.303 8,1 Thanh long hiện dang là mặt hang mang lại kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong tất cả các mặt hàng rau quả tươi của Việt Nam.
Mặc dù diện tích trồng thanh long chỉ chiếm 3,1% tong diện tích trông cây ăn quả của Việt Nam, nhưng loại trái này đang đóng góp tới 55% tổng giá trị xuất khẩu rau quả. [1] Trái thanh long Việt Nam đã có mặt ở 40 quốc gia và vùng lãnh tho, trong đó có cả các thị trường được coi là khó tính như Mỹ, Châu Au, Nhật Bản. Tuy nhiên hiện nay, thanh long đạt chuẩn xuất khâu sang các thị trường khó tính và mang lại giá tri cao như Mỹ, Nhat, Han Quốc, Châu Âu vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường do không gom đủ hàng sản xuất đạt chuẩn mà nhà nhập khẩu mong muốn. Tính đến cuối năm 2014, tỉnh Bình Thuận có diện tích sản xuất thanh long lớn nhất so với cả nước (24.212 ha) với sản lượng thu hoạch hàng năm trên 500.
Chỉ riêng các doanh nghiệp của tỉnh Bình Thuận trong năm 2014 xuất khâu vào 14 thị trường, trong đó Trung Quốc là thị trường tiêu thụ chủ lực (ước tính 80- 85% sản lượng). Tuy nhiên, SỐ lượng và kim ngạch xuất khẩu chính ngạch vào thị trường Trung Quốc chiếm tỷ trọng rất thấp (khoảng 5%) còn hầu hết thanh long Bình Thuận xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc theo hình thức buôn bán biên mậu chủ yếu qua cặp cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn, Việt Nam) — Pò Chài (Quảng Tây, Trung Quốc). [1] Do phụ thuộc quá nhiễu vào thị trường trung Quốc, dẫn đến nhiều rủi ro cho nông dân cũng như các nhà xuất khẩu, do đó nhu cau tìm ra hướng đi bền vững cho sản xuất và kinh doanh thanh long đang ngày càng trở nên cấp thiết và rất cần nhận được sự quan tâm của các bên liên quan trong và ngoài chuỗi cung ứng thanh long. Thêm vào đó, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, Trung Quốc đang có chính sách khuyến khích người dân phát triển trồng thanh long trên diện tích lớn tại hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, phía Nam Trung Quốc (diện tích hiện nay là 20.
Mặc dù việc sản xuất thanh long tại Trung Quốc không thuận lợi (do ảnh hưởng bởi thời tiết, khí hậu nên năng suất và sản lượng thanh long của Trung Quốc sẽ không nhiều và bị gián đoạn trong mùa lạnh); tuy nhiên đây là thị trường tiêu thụ hầu hết sản lượng thanh long của Việt Nam nói chung và Bình Thuận nói riêng, do vậy trong thời gian tới, thanh long Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với thanh long Trung Quốc ngay tại thị trường tiêu thụ, ngoài cạnh tranh về giá cả còn phải cạnh tranh về cả những vấn đề liên quan đến chất lượng cũng như rào cản kỹ thuật trong thương mại mà Trung Quốc có thé sẽ áp dụng trong tương lai. Thực trạng bảo quản thanh long ớ Việt Nam Quả thanh long có thời gian tồn trữ ngắn do có cường độ hô hấp cao. Nếu bảo quản ở điều kiện thường, vỏ quả sẽ bị nhăn lại chỉ sau 7 — 8 ngày bảo quản. Thành phan hóa học của quả thay đối nhiều trong quá trình bảo quản.
Xử lý nhiệt trước khi bao quan Xử lý quả bằng hơi nước nóng được ứng dụng đầu tiên ở Florida 1992 dé trừ rudi Dia Trung Hải trên quả cam [7]. Xử lý nhiệt trước khi bảo quản nhăm loại bỏ các mam bệnh trên bề mặt hoặc trong một vài lớp tế bào biéu bì của rau quả thường tiền hành trong thời gian ngắn (vài phút). Nhiệt được cung cấp cho rau quả theo một vài cách: nhúng trong nước nóng, bằng hơi nước nóng hoặc băng không khí khô nóng. Xử lý nhiệt băng hơi nóng chủ yếu hiệu quả trong việc diệt côn trùng nhưng khó dé diệt trừ được nắm mốc; Xử lý nhiệt bằng không khí khô nóng có khả năng diệt cả côn trùng và nắm mốc nhưng có thể làm bỏng vỏ quả đối với những quả có vỏ mỏng: Xử lý nhiệt bang nước nóng thường được sử dụng nhiều nhất vì nó là môi trường truyền nhiệt hiệu quả hơn không khí.
Xử lý nhiệt cũng được sử dụng để ức chế quá trình chin hoặc tao ra sức dé kháng với tôn thương lạnh và ton thương trong vỏ trong suốt thời gian bảo quan, vì thé có thé kéo dài thời gian bảo quản và thời gian tiêu thụ trên thị trường. Xử lý quả thanh long trước khi bảo quản để đảm bảo an toàn sinh học của các nước nhập khẩu, và hệ thống các siêu thị. Xử lý ở mức độ thấp nhiệt độ ở tâm quả 46,5°C trong thời gian 20 phút thì chất lượng quả được duy trì. Bao quản ở nhiệt độ thấp Bảo quản ở nhiệt độ thấp là biện pháp hữu hiệu nhất trong việc hạn chế quá trình hô hấp, hạn chế sự chín của quả và ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật, đảm bảo kéo dài thời gian bảo quản của rau quả tươi.
Đây là phương pháp bảo quản dựa theo nguyên lý tiềm sinh nghĩa là làm chậm, ức chế hoạt động sống của rau quả và vi sinh vật nhờ đó làm chậm thời gian hư hỏng thối rữa của rau quả. Như ta đã biết nhiệt độ môi trường bảo quản càng thấp thì càng có tác dụng ức chế các quá trình sinh lý sinh hóa xảy ra trong rau quả và hoạt động của vi sinh vật. Tuy nhiên, nhiệt độ môi trường bao quản lạnh phải từ 20°C đến nhiệt độ gần điểm đóng băng của dịch bào để tránh hiện tượng ton thương lạnh [8]. Qua thanh long có thể giữ được chất lượng thương mại trong khoảng 7 ngày ở 20C, 14 ngày ở 14°C, nhưng ở nhiệt độ thấp hơn 6°C xuất hiện hiện tượng ton thuong lanh voi nhirng đóm nâu trên bề mặt quả.
Xử lý thuốc Dùng chế phẩm acid gibberelic với liều 2g cho 12 lít nước, xịt đều quanh trái, có tác dụng làm tai thanh long xanh hơn và cứng hơn. Xử lý trước khi thu hoạch từ 1 — 3 ngày. Với cách này thanh long có thé bảo quan tươi được 10 — 20 ngày. Tổng quan về nam mốc Aspergillus niger 1.
Giới thiệu chung Aspergillus niger là loài nắm pho biến nhất xuất hiện trong thực phẩm, được xác định là tác nhân gây nên bệnh mốc đen trên nhiều loại thực phẩm, đặc biệt là trên các loại rau quả sau thu hoạch. Nó còn là loài nắm mốc xuất hiện pho bién nhat trên các loại hat như: đậu phộng, ốc chó, hạt phi.niger được xem là loài vi sinh vật có nhiều ứng dụng quan trong nhất trong công nghệ vi sinh. Nó đã được ứng dụng cho công nghệ lên men sản xuất acid citric và các enzyme ngoại bào trong nhiều thập kỷ qua.niger là loài phố biến nhất trong chi Aspergillus, phân bố rộng rãi trên các cơ chat tự nhiên, trong các sản pham nông công nghiệp va ở nhiễu vùng địa lý khác nhau trên thế giới.niger được sử dụng chủ yếu trong công nghiệp sản xuất enzyme (điển hình như a - amylase, glucoamylase, pectinase, protease, cellulase), trong công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp sản xuất một số acid hữu cơ như acid citric, acid gluconic.niger là loài phổ biến nhất gây bệnh thối hỏng trên nhiều loại trái cây tươi và rau củ như: Táo, đào, cam, nho, dâu tây, xoài, thanh long, hành tây, tỏi, cà chua. [3] Theo các nghiên cứu ở thập niên 70 của thế kỷ XX, bắt đầu từ nghiên cứu phân chia nhóm của Whittaker đến giới của Alexopolous và Mims đã dé nghị khóa phân loại cho giới nam nói chung và A.niger nói riêng như sau: [16] - - Ngành: Amastigomycota - - Ngành phụ: Ascomycotina - Lop: Ascomycetes - Lop phụ: Plectomycetidae - Bo: Eurotiales - Ho: Eurotiaceae - Gidng: Aspergillus - Loai: Aspergillus niger 1.