Chương 1 TONG QUAN 1. Giới thiệu sơ lược về tôm thẻ chân trắng 1. Phân loại Ngành: Arthropoda Lớp: Malacostraca Bộ: Decapoda Họ: Penaeidae Giống: Litopenaeus Loài : Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) Tên tiếng anh: White leg shrimp Tên tiếng việt: Tôm thẻ chan trắng 1.2 Đặc điểm sinh học và phân bố Tôm thẻ chân trắng có màu trắng đục, chia làm 2 phần: phần đầu ngực (cephalothorax) và phần bụng (abdomen). Phần đầu ngực gồm: chủy tôm gồm 2 răng cưa ở đưới và 8-9 răng cưa ở trên; một đôi mắt kép có cuống mắt; 2 đôi râu (Anten 1 ngắn, đốt 1 lớn và có hốc mắt, 2 nhánh ngắn, Anten 2 có nhánh ngoài biến thành vay rau (Antennal scale) nhánh trong kéo dài, hai đôi râu này giữ chức năng khứu giác và giữ thăng bằng); 3 đôi hàm; 3 đôi chân hàm (maxilliped) có chức năng giữ mỗi, ăn môi, và hỗ trợ hoạt động bơi lội; 5 đôi chân bò (chân ngực) giúp tôm bò trên mặt đáy, riêng ở tôm cái giữa chân bò 4 và 5 có thelycum.
Phần bụng tôm có 7 đốt: 5 đốt đầu mỗi đốt mang một đôi chân bụng (chân bơi). Mỗi chân bụng có một đốt chung bên trong. Đốt ngoài chia làm 2 nhánh: nhánh trong và nhánh ngoài. Đốt bụng thứ 7 biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phân thành nhánh tạo thành đuôi giúp tôm di chuyên lên xuống va bung nhảy.
Ở tôm duc, 2 nhánh trong của đôi chân bụng 2 biến thành đôi phụ bộ đực. Tôm thẻ phân bố ở vùng ven bờ phía đông Thái Bình Dương, từ biển Bắc Peru đến nam Mexico và Equador. Hiện nay tôm thẻ chân trang đã được di giống nuôi ở nhiều nước Đông A và Đông Nam A như Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia và Việt Nam,. Ở vùng biến tự nhiên, tôm chân trắng thích nghi sống nơi đáy là bùn, độ sâu khoảng 72 m, có thé sống ở độ mặn trong phạm vi từ 5 - 50%o, thích hợp ở độ mặn nước biển từ 28 - 34%o, pH từ 7,7 - 8,3.
Nhiệt độ thích hop từ 25 - 32°C, tuy nhiên chúng có thé sống được ở nhiệt độ 12 - 28°C (Dall và ctv.3 Các giai đoạn phát triển của tôm thẻ chân trắng Thời kỳ phôi bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh đến khi trứng nở, thời gian phát triển phôi phụ thuộc vao nhiệt độ nước. Sau đó tôm thẻ chân trắng lột xác và biến thái hoàn toàn qua các giai đoạn của thời kỳ ấu trùng: Nauplius (N), Zoea (Z), Mysis (M), Postlarvae (PL). Ở giai đoạn N, au tring trai qua 6 lần lột xác và có 6 giai đoạn phụ, ở giai đoạn nay sau khi au trùng nở sẽ di chuyên bằng 3 đôi phan phụ, di chuyên theo đường zic zắc không có định hướng và không liên tục, sử dụng noãn hoàng dự trữ để dinh dưỡng. Giai đoạn Z có 3 giai đoạn phụ, qua 3 giai đoạn này ấu trùng sẽ thay đổi hoàn toàn hình thái so với giai đoạn N, bơi lội liên tục và có định hướng nhờ vào 2 đôi râu và 3 đôi chân hàm phân nhánh, bắt đầu ăn thức ăn ngoài bằng cách lọc các thực vật phù du.
Tại giai đoạn M ấu trùng có khuynh hướng sống trôi nồi treo ngược mình, chúc đầu xuống dưới, vận động dựa vào 5 đôi chân bò và bơi theo kiểu bung ngược, dinh dưỡng bằng cách bat môi chủ yếu là phiêu sinh động vật. Giai đoạn PL hay còn gọi là giai đoạn hậu ấu trùng là giai đoạn tiếp sau giai đoạn M, lúc này ấu trùng đã mang những đặc điểm hình dạng của loài nhưng sắc tố vẫn chưa hoàn thiện, đặc biệt nhánh trong Anten 2 chưa kéo dài, giai đọan này PL đã có thé bơi có định hướng và thang về phía trước, hoạt động vẫn dựa vào 5 đôi chân bụng, PL bắt mỗi nhanh nhẹn. Tuổi PL được tính theo ngày trong giai đoạn trước 3-5 ngày tuổi chúng vẫn duy trì cách sống trôi nổi sau đó thì chuyển sang sống đáy. Từ ngày tuổi thứ 9 trở đi tôm bước vào thời kỳ ấu niên, sắc tố và Anten 2 của tôm ngày càng phát triển, bên cạnh đó hệ thống mang tôm cũng đã hoàn chỉnh.
Khi bước sang thời kỳ thiểu niên thelycum và petasma của tôm bắt đầu hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh, xuất hiện sự phát triển không đều giữa 2 giới tính (con cái lớn nhanh hơn con đực). Đến thời kỳ sắp trưởng thành cơ quan sinh dục ngoài đã hoàn chỉnh, tôm đực đã bắt đầu có tinh trùng trong túi tinh, tôm cái tham gia giao vĩ lần đầu. Hiện tượng sinh trưởng không đồng đều giữa 2 giới tính thể hiện càng rõ hơn. Tôm thẻ chân trắng tham gia sinh sản vào thời kỳ trưởng thành (Nguyễn Trọng Thọ và ctv.2 Khái quát tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng 1.1 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới Tôm thẻ chân trắng được đưa vào nuôi vào khoản thập niên 80, nhưng đến năm 1992 mới được nuôi phé biến nhưng cũng chỉ tập trung ở các nước Nam Mỹ (Wedner & Rosenberry,1992).
Do e ngại về sự lây truyền bệnh từ tôm thẻ chân trắng sang tôm sú mà các nước Châu Á hạn chế sự phát triển của đối tượng này. Từ năm 2003 nhờ vào những ưu điểm như tăng trưởng nhanh, lợi nhuận cao mà tôm thẻ chân trắng bắt đầu được nuôi phổ biến hơn tại châu A (Bộ NN&PTNT, 08/2023). Từ đó sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng không ngừng qua các năm. Đến năm 2010 sản lượng tôm đạt khoảng 2,7 triệu tan.
Đến năm 2018, sản lượng tôm sản xuất đã vượt ngưỡng 3 triệu tan (FAO, 2018). Từ năm 2019, do ảnh hưởng của đại địch Covid sản lượng tôm thẻ chân trắng trên toàn thế giới không còn tăng mạnh, nhưng vẫn vượt ngưỡng 3 triệu tấn (FAO, 2019). Vào năm 2020, tuy van còn chiu ảnh hưởng nặng nè từ đại dịch Covid nhưng sản lượng tôm thẻ chân trang đã dần khôi phục và tiếp tục tăng đến năm 2022 sản lượng tôm thẻ chân trắng toàn cầu đạt hơn 4,9 triệu tấn (FAO, 2023). Sản lượng tôm thẻ chân trắng trên toàn thế giới BAsia BAmericas mOther 6,000 5,000 4,843 4.973 4,870 4,000 tNvĐagơịhni: o Q 2,000 1,000 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 est Source: FAO, Industry estimates _— Bd ce Hình 1.
So đồ sản lượng tôm thẻ chân trắng toàn cau qua các năm Các nước nuôi tôm chủ yếu trên thế giới gồm Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Brazil, Ecuador, Mexico, Venezuela, Honduras, Guatemala, Nicaragua, Belize, Việt Nam, Malaysia, Peru, Colombia, Costa Rica, Panama, El Salvador, Hoa Ky, An Độ, Philippines, Campuchia, Suriname, Saint Kitts, Jamaica, Cuba, Cộng hoa Dominica, Bahamas (FAO, 2012). Hình thức nuôi chủ yếu là thâm canh và siêu thâm canh. Bên cạnh đó nhiều kỹ thuật và mô hình nuôi tôm cũng phát triển phục vụ cho nhu cầu tăng cường sản xuất tôm của thế giới. Các mô hình điển hình có thể thấy như: Nuôi tôm công nghệ Biofloc, nuôi tôm hệ thống RAS, mô hình nuôi 2 giai đoạn, mô hình nuôi 3 giai đoạn (Tép Bạc, 27/12/2021).2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam Vào năm 2001, tôm thẻ chân trắng được nuôi thử nghiệm ở Việt Nam tại Công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quang Ninh) và công ty Asia Hawaii (Phú Yên).
Năm 2006, Bộ NN&PTNT bắt đầu cho phép nuôi tôm thẻ chân trắng tại các tỉnh miền trung từ Quảng Ninh đến Bình Thuận nhưng đối tượng này vẫn chưa được phép nuôi ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long. Ngày 25/01/2008, Bộ NN&PTNT ban hành chỉ thị số 228/CT-BNN-NTTS về việc phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng tại các tỉnh phía Nam (Bộ NN & PTNT, 2010). Hiện nay tôm thẻ chân trắng được nuôi chủ yếu bằng hình thức thâm canh hoặc siêu thâm canh và trở thành một trong các đối tượng nuôi chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam giai đoạn đầu tuy không cao nhưng sau đó bat đầu phát triển và tăng mạnh.
Năm 2013, tổng diện tích nuôi tôm thé chân trang trên cả nước là 63.719 ha với sản lượng đạt 243. Năm 2019, nước ta chịu ảnh hưởng từ đại dich Covid nhưng sản lượng sản xuất vẫn cao, đạt 480. Năm 2022, sản lượng tôm thẻ chân ước đạt 743,5 nghìn tan, tăng 11,6% so với năm 2021 (Tổng cục thủy sản, 2023).3 Tình hình dịch bệnh tôm nuôi nước lợ 1.1 Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi trên thế giới Tôm thẻ chân trắng là loài có khả năng chống chịu bệnh tốt (Wyban and Sweeny, 1991). Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra trên đối tượng nuôi nay gây ra thiệt hại lớn cho người nuôi như bệnh đốm trắng (WSSV), Taura (TSV), bệnh hoại tử cơ (IMNV) và hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS/ EMS).
Năm 1992, dich bệnh TSV lần đầu tiên xảy ra ở Ecuador (Lightner, 2011) và năm 1995 ở Trung Quốc (Rosenberry, 2002). Bệnh hoại tử cơ xuất hiện ở Brazil vào năm 2002. Bệnh đốm trắng xuất hiện ở Trung Quốc vào năm 1992 sau đó là các nước Châu Á (Lightner, 2011). Trong những năm gần đây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi tôm trên thế giới.
Bệnh xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào năm 2009, sau đó là Việt Nam năm 2010, Thái Lan và Malaysia năm 2011 (Lightner, 2011) và Mexico năm 2013 và chưa ghi nhận ở các quốc gia như Bangladesh, Ecuador, Ấn Độ và Indonesia (Lightner, 2013). Đặc biệt, trong những năm gan đây, bệnh do vi bao tử trùng Enterocytozoon hepatopanaei (EHP) và hội chứng phân trắng đã làm giảm năng suất tôm nuôi, gây thiệt hại đáng kế về mặt kinh tế cho người nuôi.2 Tình hình dịch bệnh tôm nuôi tại Việt Nam Hiện nay, dịch bệnh là một trong những rủi ro mà người nuôi thường xuyên phải đối mặt. Ngành nuôi tôm phát triển kéo theo sự gia tăng nhanh chóng diện tích 10 nuôi cùng với các van đề về môi trường và dịch bệnh. Ngoài ra, biến đổi khí hậu kéo theo các vấn đề nắng nóng, mưa bão, xâm nhập mặn, thời tiết diễn biến bat thường cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định cho nuôi trồng thuỷ sản nói chung và nuôi tôm nói riêng.
Theo số liệu thống kê, giai đoạn trước năm 2010, dịch bệnh xảy ra chủ yếu là bệnh đốm trắng do virus (WSSV) với diện tích thiệt hại lên đến 658 ha vào năm 2008. Sau đó, giai đoạn từ năm 2010-2012, sự bùng phát của hội chứng chết sớm hay hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (EMS/AHPNS) đã gây ra thiệt hại đáng kể cho tôm nuôi với điện tích ảnh hưởng lên đến 7.