ĐẶT VẤN ĐỀ Sỏi tiết niệu là bệnh khá thƣờng gặp ở nƣớc ta, chiếm tỉ lệ 5- 10% dân số, chiếm 30 - 40% bệnh lý thận tiết niệu và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm. Theo một nghiên cứu của Mỹ thì tỉ lệ mắc sỏi tiết niệu chiếm 2-3% dân số và tỉ lệ có nguy cơ cao khoảng 12%. Sỏi có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào của đƣờng tiết niệu, trong đó sỏi thận gặp khoảng 40-50%, sỏi niệu quản gặp khoảng 25-30%, sỏi bàng quang gặp khoảng 30%, sỏi niệu đạo gặp khoảng 5% [1] Theo thống kê tại bệnh viện Việt Đức thì tỷ lệ sỏi phải can thiệp phẫu thuật chiếm tới 50 - 60% tổng số phẫu thuật tiết niệu [33]. Trong số các sỏi tiết niệu thì sỏi niệu quản là loại thƣờng gây tắc và tổn thƣơng sớm đến đƣờng tiết niệu.
Sỏi niệu quản thƣờng do sỏi thận di chuyển xuống, tại thận viên sỏi thƣờng ở thể yên lặng và chỉ biểu hiện triệu chứng khi nó di chuyển trong niệu quản [1]. Sau đó viên sỏi có thể tiếp tục di chuyển xuống bàng quang hoặc dừng tại một vị trí nào đó trong niệu quản gây tắc dòng nƣớc tiểu. Sỏi niệu quản có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm nhƣ thận ứ nƣớc, thận ứ mủ, vô niệu, suy thận.Vì vậy việc tìm ra một phƣơng pháp tối ƣu cho điều trị sỏi niệu quản là rất cần thiết [31]. Hiện nay, nhờ vào những thành tựu to lớn về khoa học kĩ thuật, năng lƣợng, điện tử và quang học, các năng lƣợng phá sỏi nhƣ: thuỷ điện lực, điện động học, siêu âm, laser và nguồn ánh sáng lạnh, cùng với hệ thống quang học phát triển các nhà khoa học đã chế tạo ra các ống nội soi cứng và mềm có đƣờng kính ngày càng nhỏ, cho phép các nhà tiết niệu thực hiện kỹ thuật đƣợc dễ dàng và kết quả tán sỏi có tỉ lệ thành công cao hơn.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các phƣơng pháp điều trị sỏi tiết niệu ít xâm lấm ngày càng phổ biến nhƣ phƣơng pháp tán sỏi qua da, phƣơng pháp tán sỏi qua nội soi hay phƣơng pháp tán sỏi ngoài cơ thể [33]. 2 Tán sỏi nội soi ngày càng phát triển và hoàn thiện, trở thành một phƣơng pháp rất hiệu quả và không thể thiếu trong điều trị sỏi niệu quản. Nội soi tán sỏi niệu quản hiện nay đã đƣợc áp dụng để điều trị sỏi niệu quản ở hầu hết các bệnh viện lớn trong cả nƣớc. Trong các loại năng lƣợng dùng để tán sỏi hiện nay thì tán sỏi bằng xung hơi có ƣu điểm nhƣ dễ sử dụng, chi phí thấp thích hợp với điều kiện kinh tế đối với các bệnh viện ở vùng nông thôn, miền núi mà vẫn đạt đƣợc sự an toàn, hiệu quả và tính thẩm mỹ cho bệnh nhân.
Cùng với các loại năng lƣợng khác thì phƣơng pháp này cũng đã khẳng định đƣợc vai trò của nó trong điều trị sỏi niệu quản [33]. Bệnh viện C Thái Nguyên là một bệnh viện tuyến tỉnh, đã áp dụng phƣơng pháp tán sỏi nội soi điều trị sỏi niệu quản bằng xung hơi từ nhiều năm nay, để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của phƣơng pháp này tại Bệnh viện, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu kết quả nội soi tán sỏi niệu quản bằng xung hơi tại Bệnh viện C Thái Nguyên” nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi tán sỏi niệu quản bằng xung hơi tại Bệnh viện C Thái Nguyên từ 2011 – 2016. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả nội soi tán sỏi niệu quản bằng xung hơi tại Bệnh viện C Thái Nguyên.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.1 Giải phẫu và sinh lý của niệu quản 1.1 Giải phẫu niệu quản 1.1 Hình thể và liên quan giải phẫu của niệu quản Niệu quản là một ống dẫn nƣớc tiểu từ bể thận xuống bàng quang, nằm sau phúc mạc, dọc hai bên cột sống thắt lƣng và ép sát vào thành bụng sau. Niệu quản bắt đầu từ khúc nối bể thận - niệu quản đi thẳng xuống eo trên, bắt chéo động mạch chậu, chạy vào chậu hông rồi chếch ra trƣớc và đổ vào bàng quang. Niệu quản ở ngƣời lớn dài khoảng từ 25-28 cm, bên phải ngắn hơn bên trái khoảng 01cm, đƣờng kính ngoài khoảng 04-05 mm, đƣờng kính trong khoảng 03-04 mm [38].1 Giải phẫu mặt trƣớc thận và niệu quản [26] Niệu quản chia làm 04 đoạn từ trên xuống dƣới: 4 *Đoạn thắt lưng:dài từ 09-11cm, liên quan ở sau với cơ thắt lƣng, các dây thần kinh đám rối thắt lƣng (thần kinh sinh dục đùi), với các mỏm ngang của đốt sống thắt lƣng (L2-L5), phía trong bên phải liên quan với tĩnh mạch chủ, bên trái với động mạch chủ, cùng đi song song với niệu quản xuống hố chậu có tĩnh mạch sinh dục [38]. *Đoạn chậu: dài 03-04cm, bắt đầu khi đi qua cánh xƣơng cùng tới eo trên của xƣơng chậu.
Liên quan với động mạch chậu: bên trái NQ bắt chéo động mạch chậu gốc trên chỗ phân nhánh 1,5cm, bên phải NQ bắt chéo động mạch chậu ngoài dƣới chỗ phân nhánh 1,5cm, cả hai NQ đều cách đƣờng giữa 4,5cm tại nơi bắt chéo động mạch. Tại đây NQ vắt qua động mạch thƣờng bị hẹp, là điều kiện cho sỏi dừng lại gây bệnh sỏi niệu quản [38]. 2 NQ đoạn bắt chéo động mạch chậu [9]. *Đoạn chậu hông: dài 12-14cm, NQ chạy từ eo trên xƣơng chậu tới bàng quang, đoạn này niệu quản đi cạnh động mạch chậu trong chạy chếch ra ngoài và ra sau theo đuờng cong của thành bên xƣơng chậu.
Tới nền chậu hông chỗ gai ngồi thì vòng ra trƣớc và vào trong để tới bàng quang, liên quan của niệu quản phía sau với khớp cùng chậu, cơ bịt trong, bó mạch thần kinh bịt bắt chéo phía sau NQ, phía trƣớc liên quan khác nhau giữa nam và nữ. 5 - Nữ giới: NQ khi rời thành chậu hông đi vào đáy của dây chằng rộng tới mặt bên của âm đạo rồi đổ ra trƣớc âm đạo và sau bàng quang. Khi qua phần giữa dây chằng rộng niệu quản bắt chéo sau động mạch tử cung. - Nam giới: niệu quản chạy vào trƣớc trực tràng, lách giữa bàng quang và túi tinh, bắt chéo ống tinh ở phía sau [38].
3 Liên quan NQ 1/3 dƣới nữ (a) và nam (b) [9]. * Đoạn bàng quang: dài từ 01-1,5cm, NQ đi vào bàng quang theo hƣớng chếch từ trên xuống dƣới vào trong và ra trƣớc, NQ trƣớc khi đổ vào bàng quang (BQ) đã chạy trong thành BQ một đoạn, tạo thành một van sinh lý có tác dụng tránh trào ngƣợc nƣớc tiểu từ BQ lên niệu quản. Hai lỗ niệu quản cách nhau 2,5cm khi bàng quang rỗng và 05cm khi BQ đầy [38]. * Niệu quản: có 3 chỗ hẹp sinh lý mà sỏi thƣờng dừng lại khi di chuyển từ thận xuống bàng quang.
Vị trí thứ nhất là chỗ nối bể thận niệu quản, đƣờng kính khoảng 2mm (6Fr), đây là chỗ hẹp sinh lý và máy soi và ống thông có thể đi qua dễ dàng. Vị trí hẹp thứ hai là chỗ niệu quản bắt chéo động mạch chậu, đƣờng kính khoảng 4mm (12Fr), vị trí này NQ vừa bị gấp góc mở ra trƣớc vừa bị động mạch chậu chèn ép từ ngoài vào, tuy nhiên vị trí này không có sự thay đổi đƣờng kính. Vị trí thứ ba là chỗ nối NQ - BQ, lỗ niệu quản 3- 6 4mm, đây là chỗ hẹp thực sự, do đó thƣờng phải nong trƣớc khi đặt máy soi [33]. Trên thực tế lâm sàng, dựa trên phim chụp XQ, các nhà ngoại khoa chia niệu quản ra thành 3 đoạn: - Niệu quản đoạn1/3 trên (upper ureter): chạy từ khúc nối bể thận- niệu quản đến bờ trên của xƣơng cùng.
- Niệu quản đoạn 1/3 giữa (middle ureter): từ bờ trên xƣơng cùng chạy xuống bờ dƣới xƣơng cùng. - Niệu quản đoạn1/3 dƣới (lower ureter): chạy từ bờ dƣới xƣơng cùng xuống bàng quang [49]. 4 Hình dạng, kích thƣớc và chia đoạn của niệu quản [2]. Mũi tên chỉ đoạn bắt chéo qua động mạch chậu 7 UPJ: Đoạn nối bể thận niệu quản UO: Đoạn niệu quản thành bàng quang I: Đoạn niệu quản 1/3 trên II: Đoạn niệu quản 1/3 giữa III: Đoạn niệu quản 1/3 dƣới.
Hệ thống mạch máu và thần kinh niệu quản Hình 1. 5 Mạch máu nuôi niệu quản và bàng quang [27]. Mạch máu cung cấp cho niệu quản từ nhiều nguồn. Nhánh từ động ĐM thận cấp máu cho 1/3 trên NQ và bể thận.
Các nhánh nhỏ từ ĐM chủ bụng, ĐM mạch treo tràng dƣới, ĐM chậu trong, ĐM sinh dục cấp máu cho 1/3 giữa NQ. Nhánh từ ĐM bàng quang, ĐM chậu trong cấp máu cho 1/3 dƣới NQ. Các mạch máu này tiếp nối với nhau thành một lƣới mạch phong phú quanh NQ. Các tĩnh mạch nhận máu từ các nhánh tĩnh mạch niệu quản đổ về tĩnh mạch bàng quang, tĩnh mạch chậu dƣới, tĩnh mạch thận ở trên.
Hệ thần kinh chi phối niệu quản là hệ giao cảm và phân bố theo động mạch. Chúng có nguồn gốc từ đám rối thận, đám rối tinh và đám rối hạ vị, gồm sợi vận động chi phối cho cơ trơn thành niệu quản, và các sợi cảm giác mang cảm giác đau khi có sự căng đột ngột thành niệu quản [38]. Cấu trúc mô học niệu quản Thành niệu quản dày 01 mm có cấu trúc gồm 3 lớp: Lớp niêm mạc: Niêm mạc niệu quản liên tục với bể thận ở trên và bàng quang ở dƣới, bao gồm lớp tế bào biểu mô chuyển tiếp đƣợc đệm bởi tổ chức sợi sơ có khả năng co giãn. Cấu tạo lớp niêm mạc cho phép NQ căng và xẹp trong khi nhu động.
Lớp niêm mạc có độ dày khác nhau, từ sáu lớp tế bào đoạn niệu quản trong thành bàng quang và hai lớp tế bào đoạn niệu quản chỗ nối với bể thận. Lớp cơ: Gồm 3 lớp, lớp trong là lớp cơ dọc, lớp giữa là lớp cơ vòng, lớp ngoài thô sơ gồm vài bó cơ dọc. Lớp cơ niệu quản sắp xếp theo kiểu vòng xoắn. Lớp bao ngoài: Lớp áo vỏ xơ, liên tiếp với lớp vỏ xơ trên thận và ở dƣới với bàng quang.
Có nhiều mạch máu nối tiếp nhau, hệ thống thần kinh và một số tế bào hạch chi phối hoạt động của NQ [38]. 6 Giải phẫu vi thể NQ [9].Sinh lý niệu quản 1. Hoạt động co bóp của niệu quản. 9 * Sinh lý của chỗ nối bể thận niệu quản.
Đài thận, bể thận và NQ có quan hệ chặt chẽ với nhau để thực hiện chức năng đƣa nƣớc tiểu từ thận xuống BQ. Khi bể thận nhận đầy nƣớc tiểu từ các đài thận đổ về, áp lực trong bể thận tăng lên, kích thích trƣơng lực cơ tạo thành những co bóp đẩy nƣớc tiểu xuống đoạn NQ xẹp ở phía dƣới.