Nghiên Cứu Một Số Chỉ Định Và Kết Quả Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh

Nghiên cứu chỉ định và kết quả mổ lấy thai tại bệnh viện sản nhi Bắc Ninh, cung cấp thông tin hữu ích cho y tế và chăm sóc sức khỏe.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Sản phụ khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn bác sĩ chuyên khoa II

2018

94
10
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Sản Nhi

Mổ lấy thai (MLT) là một thủ thuật sản khoa quan trọng, được thực hiện để đưa thai nhi và phần phụ ra khỏi tử cung thông qua đường rạch ở thành bụng và tử cung. Thủ thuật này đã trải qua một lịch sử phát triển lâu dài, từ những ca mổ cứu sống thai nhi khi người mẹ đã qua đời, đến phương pháp phẫu thuật hiện đại ngày nay. Tỷ lệ mổ lấy thai trên toàn thế giới đã tăng lên đáng kể trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt ở các nước phát triển. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về phẫu thuật lấy thai cũng cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ giữa các bệnh viện. Việc hiểu rõ các chỉ định và kết quả của sinh mổ là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các chỉ định và kết quả mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh năm 2017.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Của Phẫu Thuật Mổ Lấy Thai

Mổ lấy thai có một lịch sử lâu đời, bắt nguồn từ hàng ngàn năm trước Công nguyên. Ban đầu, thủ thuật này chỉ được thực hiện trên những người mẹ đã qua đời hoặc hấp hối để cứu đứa trẻ. Đến năm 1610, Jaremiah Trautmanm (Đức) ủng hộ việc phẫu thuật lấy thai và đã báo cáo 15 trường hợp thành công. Năm 1882, Max Sanger (Đức) giới thiệu phương pháp mổ dọc thân tử cung để lấy thai có khâu phục hồi cơ tử cung 2 lớp. Đến những năm 1950, gây mê hồi sức đã có bước tiến mới trong việc áp dụng các phương tiện gây mê hiện đại, thuốc tê, thuốc mê mới thì phẫu thuật MLT thực hiện an toàn hơn, đảm bảo hơn cho mẹ và con.

1.2. Tình Hình Mổ Lấy Thai Trên Thế Giới Và Tại Việt Nam

Tỉ lệ mổ lấy thai ở nhiều nước trên thế giới tăng nhanh trong vòng 20 năm trở lại đây, đặc biệt là các nước phát triển. Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về mổ lấy thai. Mỗi nghiên cứu cho tỉ lệ mổ lấy thai tương đối khác nhau. Nghiên cứu của Phạm Bá Nha (2009) tại Bệnh viện Bạch Mai cho tỉ lệ mổ lấy thai là 36,7%. Nghiên cứu của Đặng Thị Hà (2010) tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 2 cho tỉ lệ mổ lấy thai 43,2%. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình (2013) cho tỉ lệ mổ lấy thai tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2012 là 46,3%.

II. Thách Thức Biến Chứng Mổ Lấy Thai Tại Sản Nhi

Mổ lấy thai có thể gây ra một số tai biến cho mẹ và con trong và sau quá trình thực hiện phẫu thuật. Đối với mẹ, mổ lấy thai có thể gây ra một số tai biến như: rách bàng quang, thắt hoặc cắt phải niệu quản, tổn thương ruột, mạc nối, nhiễm khuẩn (vết mổ, tử cung), tắc ruột do dính. Đối với con, mổ lấy thai có thể gây ra các tai biến như: rạch vào thai nhi, ngạt, gãy xương, chấn thương sọ não. Về lâu dài, mổ lấy thai còn có một số ảnh hưởng khác đối với mẹ và con. Do đó, kiểm soát và đưa ra những chỉ định mổ lấy thai hợp lý là việc làm cần thiết để góp phần làm giảm tỉ lệ mổ lấy thai chung.

2.1. Các Tai Biến Và Biến Chứng Thường Gặp Khi Mổ Lấy Thai

Đối với mẹ, mổ lấy thai có thể gây ra một số tai biến như: rách bàng quang, thắt hoặc cắt phải niệu quản, tổn thương ruột, mạc nối, nhiễm khuẩn (vết mổ, tử cung), tắc ruột do dính. Đối với con, mổ lấy thai có thể gây ra các tai biến như: rạch vào thai nhi, ngạt, gãy xương, chấn thương sọ não. Về lâu dài, mổ lấy thai còn có một số ảnh hưởng khác đối với mẹ và con.

2.2. Ảnh Hưởng Lâu Dài Của Mổ Lấy Thai Đến Sức Khỏe Mẹ Và Bé

Về lâu dài, mổ lấy thai có thể ảnh hưởng đến khả năng mang thai và sinh con trong tương lai. Sẹo mổ trên tử cung có thể làm tăng nguy cơ vỡ tử cung trong các lần mang thai sau. Ngoài ra, mổ lấy thai cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình cho con bú và sự gắn kết giữa mẹ và bé.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Kết Quả Mổ Lấy Thai Tại Bắc Ninh

Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh năm 2017, tập trung vào việc phân tích các chỉ định mổ lấy thai và mô tả kết quả của thủ thuật này. Đối tượng nghiên cứu là các sản phụ được mổ lấy thai tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp mô tả cắt ngang, với cỡ mẫu được chọn dựa trên số lượng ca mổ lấy thai thực tế tại bệnh viện. Các biến số nghiên cứu bao gồm thông tin về sản phụ, chỉ định mổ lấy thai, phương pháp phẫu thuật, và kết quả cho cả mẹ và bé.

3.1. Đối Tượng Và Tiêu Chuẩn Lựa Chọn Trong Nghiên Cứu

Đối tượng nghiên cứu là các sản phụ được mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh năm 2017. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm các sản phụ có đầy đủ hồ sơ bệnh án và đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các sản phụ có bệnh lý nội khoa nặng hoặc các trường hợp mổ lấy thai do tai nạn.

3.2. Phương Pháp Thu Thập Và Phân Tích Dữ Liệu Nghiên Cứu

Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án của các sản phụ, bao gồm thông tin về tiền sử sản khoa, chỉ định mổ lấy thai, phương pháp phẫu thuật, và kết quả cho cả mẹ và bé. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê y học để mô tả các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và xác định các yếu tố liên quan đến kết quả mổ lấy thai.

IV. Phân Tích Chi Tiết Các Chỉ Định Mổ Lấy Thai Tại Bắc Ninh

Các chỉ định mổ lấy thai được phân loại thành chỉ định chủ động (khi chưa có chuyển dạ) và chỉ định trong chuyển dạ. Các chỉ định chủ động bao gồm khung chậu bất thường, rau tiền đạo, tử cung có sẹo mổ cũ, và các bệnh lý của mẹ. Các chỉ định trong chuyển dạ bao gồm chảy máu, dọa vỡ tử cung, vỡ tử cung, sa dây rau, và suy thai cấp. Việc phân tích các chỉ định mổ lấy thai giúp đánh giá tính hợp lý của việc thực hiện thủ thuật này và xác định các yếu tố có thể cải thiện để giảm tỷ lệ mổ lấy thai không cần thiết.

4.1. Các Chỉ Định Mổ Lấy Thai Chủ Động Thường Gặp

Các chỉ định mổ lấy thai chủ động bao gồm khung chậu bất thường, rau tiền đạo trung tâm hoặc bán trung tâm, tử cung có sẹo mổ cũ (đặc biệt là sẹo mổ ở thân tử cung hoặc sẹo mổ từ 2 lần trở lên), và các bệnh lý của mẹ như bệnh tim ở giai đoạn mất bù trừ, bệnh tăng huyết áp, hoặc tiền sản giật nặng.

4.2. Các Chỉ Định Mổ Lấy Thai Trong Chuyển Dạ Thường Gặp

Các chỉ định mổ lấy thai trong chuyển dạ bao gồm chảy máu do rau tiền đạo hoặc rau bong non, dọa vỡ tử cung (thường xảy ra trong các trường hợp chuyển dạ kéo dài hoặc sử dụng oxytocin không đúng chỉ định), vỡ tử cung, sa dây rau, và suy thai cấp (khi các biện pháp hồi sức thai không hiệu quả).

V. Đánh Giá Kết Quả Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Sản Nhi

Kết quả mổ lấy thai được đánh giá dựa trên các chỉ số về sức khỏe của mẹ và bé sau phẫu thuật. Đối với mẹ, các chỉ số bao gồm thời gian nằm viện, tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ, và các biến chứng khác. Đối với bé, các chỉ số bao gồm cân nặng khi sinh, điểm Apgar, và các vấn đề sức khỏe khác. Nghiên cứu cũng xem xét việc sử dụng thuốc kháng sinh và thời gian phục hồi sau mổ lấy thai. Việc đánh giá kết quả mổ lấy thai giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và đề xuất các biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ.

5.1. Tình Trạng Sức Khỏe Của Sản Phụ Sau Mổ Lấy Thai

Tình trạng sức khỏe của sản phụ sau mổ lấy thai được đánh giá dựa trên các chỉ số như thời gian nằm viện, tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ, tỷ lệ băng huyết sau sinh, và các biến chứng khác như tắc mạch hoặc viêm nội mạc tử cung. Nghiên cứu cũng xem xét việc sử dụng thuốc giảm đau và thuốc kháng sinh sau phẫu thuật.

5.2. Tình Trạng Sức Khỏe Của Trẻ Sơ Sinh Sau Mổ Lấy Thai

Tình trạng sức khỏe của trẻ sơ sinh sau mổ lấy thai được đánh giá dựa trên các chỉ số như cân nặng khi sinh, điểm Apgar (đánh giá tình trạng sức khỏe của trẻ ngay sau sinh), và các vấn đề sức khỏe khác như suy hô hấp hoặc nhiễm trùng sơ sinh. Nghiên cứu cũng xem xét việc trẻ có cần được chăm sóc đặc biệt sau sinh hay không.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Về Mổ Lấy Thai Tương Lai

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các chỉ định và kết quả mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh năm 2017. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để cải thiện quy trình mổ lấy thai, giảm tỷ lệ mổ lấy thai không cần thiết, và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho mẹ và bé. Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp để giảm tỷ lệ mổ lấy thai và cải thiện kết quả cho cả mẹ và bé.

6.1. Các Biện Pháp Cải Thiện Quy Trình Mổ Lấy Thai

Các biện pháp cải thiện quy trình mổ lấy thai bao gồm việc tăng cường tư vấn cho sản phụ về lợi ích và rủi ro của mổ lấy thai, áp dụng các tiêu chí rõ ràng và khách quan trong việc chỉ định mổ lấy thai, và sử dụng các kỹ thuật phẫu thuật tiên tiến để giảm nguy cơ biến chứng.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Mổ Lấy Thai Tại Bắc Ninh

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp để giảm tỷ lệ mổ lấy thai và cải thiện kết quả cho cả mẹ và bé. Ngoài ra, cần có các nghiên cứu về chi phí - hiệu quả của các phương pháp sinh khác nhau để giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định sáng suốt.

04/06/2025
Nghiên cứu một số chỉ định và kết quả mổ lấy thai tại bệnh viện sản nhi tỉnh bắc ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu tử cung liên quan đến mổ lấy thai 1. Giải phẫu tử cung khi chưa có thai - Hình thể ngoài: Tử cung gồm 3 phần: thân, eo và cổ tử cung. Thân tử cung hình thang, đáy lớn ở trên, có 2 sừng ở 2 bên; dài 4cm, rộng 4,5cm.

Tử cung gập và ngả vào trước, tạo với CTC một góc 120 độ và với âm đạo một góc 90 độ. Liên quan của tử cung có 2 phần: Phần trên âm đạo: gồm thân tử cung, eo tử cung và một đoạn CTC. Phần nằm trong âm đạo: có đoạn dưới CTC gọi là mõm cá mè, xung quanh có các túi cùng âm đạo [25]. - Hình thể trong: Tử cung là một khối cơ trơn, rỗng ở giữa tạo thành một khoang ảo gọi là buồng tử cung, khoang này dẹt thắt lại ở eo [8].

Cấu trúc của tử cung gồm 3 lớp: lớp phúc mạc, lớp cơ và lớp niêm mạc. - Động mạch tử cung là 1 nhánh của động mạch hạ vị, dài 13 - 15 cm. Liên quan của động mạch tử cung có 3 đoạn: Đoạn thành và sau dây chằng rộng, đoạn dưới dây chằng rộng và đoạn cạnh tử cung. - Tử cung được giữ tại chỗ do các phương tiện sau: Tử cung bám vào âm đạo mà âm đạo được các cơ nâng hậu môn, đoạn gấp của trực tràng, nút thớ trung tâm đáy chậu giữ chắc tại chỗ.

Các dây chằng giữ tử cung là những nếp của phúc mạc trong chứa các tổ chức như sợi cơ, sợi liên kết, sợi đàn hồi, sợi thần kinh. Cơ hoành đáy chậu và các tạng xung quanh như bàng quang, trực tràng cũng góp phần vào việc giữ tử cung tại chỗ [8], [25]. Thay đổi giải phẫu tử cung khi có thai * Thay đổi ở thân tử cung: Thân tử cung là bộ phận thay đổi nhiều nhất trong khi có thai và chuyển dạ. Trứng làm tổ ở niêm mạc tử cung và niêm mạc tử cung biến thành ngoại sản mạc.

Tại đây hình thành bánh rau, màng 4 rau, buồng ối để chứa thai nhi ở trong. Trong khi có thai thân tử cung thay đổi về kích thước, vị trí và tính chất. - Trọng lượng: Khi chưa có thai, tử cung nặng 50 – 60 gram. Sau khi thai và rau sổ ra ngoài, tử cung nặng trung bình 1000 gram (900 – 1200 gram).

- Dung tích: Khi chưa có thai, buồng tử cung có dung tích 1 - 4ml. Khi có thai dung tích buồng tử cung tăng lên tới 4000 – 5000ml, trong các trường hợp đa thai, đa ối dung tích buồng tử cung có thể tăng nhiều hơn nữa. Buồng tử cung khi chưa có thai đo được trung bình 7cm, vào cuối thời kỳ thai nghén, buồng tử cung cao tới 32cm. - Hình thể: Trong 3 tháng đầu, đường kính trước sau to nhanh hơn đường kính ngang nên tử cung có hình tròn.

Vào 3 tháng giữa tử cung có hình trứng, cực to ở trên, cực nhỏ ở dưới. Trong 3 tháng cuối hình thể tử cung phụ thuộc vào tư thế của thai nhi nằm trong buồng tử cung. - Vị trí: Khi chưa có thai, tử cung nằm ở đáy chậu, trong tiểu khung. Khi có thai tử cung lớn lên và tiến vào ổ bụng.

Tháng đầu, tử cung còn ở dưới khớp vệ. Từ tháng thứ 2, mỗi tháng tử cung phát triển cao lên phía trên khớp vệ 4cm. - Cấu tạo: Cơ ở thân tử cung gồm 3 lớp: lớp cơ dọc, lớp cơ vòng và lớp giữa (lớp cơ đan chéo). Khi sổ rau, lớp cơ đan chéo co chặt lại để tạo thành khối an toàn của tử cung, thít chặt các mạch máu lại, đảm bảo không chảy máu đó là sự cầm máu sinh lý.

Phúc mạc ở thân tử cung dính chặt vào lớp cơ tử cung, khi có thai phúc mạc phì đại và giãn ra theo cơ tử cung. Ở eo tử cung, phúc mạc có thể bóc tách được dễ dàng ra khỏi lớp cơ tử cung, ranh giới giữa hai vùng là đường bám chặt của phúc mạc. Đó là ranh giới để phân biệt đoạn thân tử cung với đoạn dưới tử cung. Người ta thường MLT ở đoạn dưới tử cung để có thể phủ được phúc mạc sau khi đã đóng kín vết mổ ở lớp cơ tử cung.

5 - Khả năng co bóp và co rút: Khi có thai khả năng co bóp và co rút của cơ tử cung tăng lên rất lớn. Tăng khả năng co bóp và co rút do: các sợi cơ tử cung đã tăng tình trạng dễ kích thích nên dễ bị co bóp hơn và các sợi cơ thường xuyên ở trong tình trạng giãn nên dễ dàng và sẵn sàng co rút lại [8], [25], [21]. * Thay đổi ở eo tử cung Trước khi có thai eo tử cung chỉ là một vòng tròn nhỏ, chiều cao 0,5 – 1cm nằm giữa thân và CTC. Khi có thai eo tử cung giãn rộng dần, dài và mỏng ra tạo thành đoạn dưới tử cung.

Đến cuối cuộc chuyển dạ đẻ đoạn dưới tử cung dài khoảng 10cm. Đối với sản phụ con so đoạn dưới tử cung được thành lập từ đầu tháng thứ 9. Còn ở người con rạ đoạn dưới tử cung được thành lập vào giai đoạn đầu của cuộc chuyển dạ. Đoạn dưới tử cung là phần dễ vỡ nhất trong cuộc chuyển dạ đẻ và dễ chảy máu khi có rau tiền đạo [21].

* Thay đổi ở cổ tử cung Khi có thai CTC mềm ra, mềm từ ngoài vào trung tâm. Vị trí và hướng CTC không thay đổi nhưng khi đoạn dưới được thành lập, CTC thường quay về phía xương cùng do đoạn dưới tử cung phát triển nhiều ở mặt trước hơn mặt sau. Khi bắt đầu chuyển dạ đẻ CTC xóa và mở [21]. Lịch sử phát triển của mổ lấy thai 1.

Định nghĩa mổ lấy thai Mổ lấy thai (MLT) là trường hợp thai và phần phụ của thai được lấy ra khỏi buồng tử cung qua đường rạch của thành tử cung và đường rạch của thành bụng. Định nghĩa này không bao hàm mở bụng lấy thai trong trường hợp chửa trong ổ bụng và vỡ tử cung thai đã nằm trong ổ bụng [16]. Sơ lược về lịch sử mổ lấy thai Theo sử sách của người Ai Cập, MLT đã được đề cập vào những năm 3000 năm trước công nguyên. Khi ấy MLT chỉ được thực hiện trên người mẹ 6 mới chết hoặc đang hấp hối để cứu con.

Năm 1610, Jaremiah Trautmanm (Đức) ủng hộ việc phẫu thuật lấy thai và đã báo cáo 15 trường hợp thành công. Năm 1882, Max Sanger (Đức) giới thiệu phương pháp mổ dọc thân tử cung để lấy thai có khâu phục hồi cơ tử cung 2 lớp và ông đã xuất bản một cuốn sách dày 200 trang với tên "Kỹ thuật mổ lấy thai" gọi là kỹ thuật Sanger. Năm 1904, Williams đã xuất bản cuốn sách giáo khoa nổi tiếng về phương pháp phẫu thuật lấy thai chuẩn mực trong thực hành sản khoa [10]. Vào những năm 1950, gây mê hồi sức đã có bước tiến mới trong việc áp dụng các phương tiện gây mê hiện đại, thuốc tê, thuốc mê mới thì phẫu thuật MLT thực hiện an toàn hơn, đảm bảo hơn cho mẹ và con.

Ở Việt Nam, trước năm 1950 do nguy cơ nhiễm khuẩn lớn, chưa có kháng sinh và hạn chế của gây mê nên MLT được áp dụng rất hạn chế. Sau khi kháng sinh ra đời, MLT mới được áp dụng rộng rãi. Năm 1956 phẫu thuật mổ dọc đoạn dưới tử cung lấy thai được áp dụng đầu tiên tại khoa sản Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội). Ngày nay MLT đang được áp dụng rộng rãi trên toàn quốc.

Chỉ định mổ lấy thai: Chỉ định MLT có thể phân thành hai loại chỉ định: - Những chỉ định MLT chủ động khi chưa có chuyển dạ. - Những chỉ định MLT trong chuyển dạ. Các chỉ định mổ lấy thai chủ động 1. Khung chậu bất thường - Khung chậu hẹp toàn diện là khung chậu có tất cả các đường kính giảm đều cả eo trên và eo dưới.

Đặc biệt đường kính nhô – hậu vệ ≤ 8,5 cm. 7 - Khung chậu méo dựa vào đo hình trám Michaelis không cân đối và đường kính nhô – hậu vệ ≤ 8,5 cm. Bình thường hình trám Michaelis có đường chéo góc trên – dưới (gai sau đốt sống thắt lưng V đến đỉnh liên mông) dài 11 cm và đường chéo góc ngang (liên gai chậu sau trên) dài 10 cm, hai đường chéo này vuông góc với nhau. Đường chéo góc trên – dưới chia đường chéo góc ngang thành 2 phần bằng nhau mỗi bên 5 cm, đường chéo góc ngang chia đường chéo góc trên dưới thành hai phần: phía trên 4 cm, phía dưới 7 cm.

Nếu khung chậu méo thì 2 đường chéo này cắt nhau không cân đối, không vuông góc và hình trám được hợp thành bởi 2 tam giác không cân. - Khung chậu hình phễu: khung chậu biến dạng làm eo trên rộng, hẹp eo dưới. Thai lọt dễ dàng qua eo trên nhưng khó sổ hoặc không sổ được qua eo dưới. Chẩn đoán dựa vào đo đường kính lưỡng ụ ngồi.

Nếu đường kính lưỡng ụ ngồi ≈ 9 cm thai sẽ không sổ được, nên có chỉ định MLT chủ động [20]. Đường xuống của thai nhi bị cản trở - Khối u tiền đạo: u xơ ở đoạn dưới tử cung, khối u buồng trứng (hoặc các khối u khác) ngăn cản quá trình lọt, xuống và sổ của thai [39]. - Rau tiền đạo trung tâm, bán trung tâm: nên mổ chủ động khi thai đủ tháng để tránh chảy máu nhiều khi chuyển dạ nguy hiểm đến tính mạng của sản phụ và thai nhi [20], [41]. Tử cung có sẹo mổ cũ Sẹo mổ ở thân tử cung trước khi có thai lần này như: Sẹo mổ bóc nhân xơ tử cung, sẹo mổ tạo hình tử cung, sẹo MLT từ 2 lần trở lên, sẹo MLT dưới 24 tháng, sẹo MLT cũ và ngôi thai bất thường, sẹo MLT cũ và thai to.

Những trường hợp này có nguy cơ nứt sẹo trong thời kỳ mang thai và dễ vỡ tử cung trong chuyển dạ. Nghiên cứu của Lộc Quốc Phương và cs (2016) trên các sản phụ có sẹo MLT ở tuổi thai ≥ 37 tuần cho kết quả: chỉ định MLT tuyệt đối ở sản phụ có sẹo MLT do sản phụ MLT ≥ 2 lần là 13,2%, do sẹo MLT cũ < 24 8 tháng 7,64% và do sẹo MLT xấu dính 1,4% [29]. Nghiên cứu của Đinh Văn Sinh và cs (2011) trên 110 sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ được chẩn đoán là rau tiền đạo cho kết quả: tỉ lệ MLT ở bệnh nhân bị rau tiền đạo có sẹo mổ đẻ cũ là 99%, trong đó mổ chủ động chiếm 64,2% và mổ cấp cứu chiếm 35,8% [30]. Chỉ định về phía mẹ - Các bệnh tim ở giai đoạn mất bù trừ (suy tim).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Kết Quả Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Sản Nhi Bắc Ninh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và kết quả của các ca mổ lấy thai tại bệnh viện này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các chỉ định mổ mà còn đánh giá hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả mổ, từ đó giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho mẹ và trẻ sơ sinh. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các phương pháp và quy trình chăm sóc, cũng như những khuyến nghị để cải thiện kết quả mổ lấy thai.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu một số chỉ định và kết quả mổ lấy thai tại bệnh viện sản nhi tỉnh bắc ninh, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các chỉ định mổ và kết quả thực tế. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ thực trạng chăm sóc thiết yếu bà mẹ trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ thường tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2020 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình chăm sóc sau sinh. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ lấy thai tại bệnh viện vinmec năm 2018 sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về chăm sóc sau mổ lấy thai, giúp bạn có thêm thông tin quý giá trong lĩnh vực này.