Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu tử cung liên quan đến mổ lấy thai 1. Giải phẫu tử cung khi chưa có thai - Hình thể ngoài: Tử cung gồm 3 phần: thân, eo và cổ tử cung. Thân tử cung hình thang, đáy lớn ở trên, có 2 sừng ở 2 bên; dài 4cm, rộng 4,5cm.
Tử cung gập và ngả vào trước, tạo với CTC một góc 120 độ và với âm đạo một góc 90 độ. Liên quan của tử cung có 2 phần: Phần trên âm đạo: gồm thân tử cung, eo tử cung và một đoạn CTC. Phần nằm trong âm đạo: có đoạn dưới CTC gọi là mõm cá mè, xung quanh có các túi cùng âm đạo [25]. - Hình thể trong: Tử cung là một khối cơ trơn, rỗng ở giữa tạo thành một khoang ảo gọi là buồng tử cung, khoang này dẹt thắt lại ở eo [8].
Cấu trúc của tử cung gồm 3 lớp: lớp phúc mạc, lớp cơ và lớp niêm mạc. - Động mạch tử cung là 1 nhánh của động mạch hạ vị, dài 13 - 15 cm. Liên quan của động mạch tử cung có 3 đoạn: Đoạn thành và sau dây chằng rộng, đoạn dưới dây chằng rộng và đoạn cạnh tử cung. - Tử cung được giữ tại chỗ do các phương tiện sau: Tử cung bám vào âm đạo mà âm đạo được các cơ nâng hậu môn, đoạn gấp của trực tràng, nút thớ trung tâm đáy chậu giữ chắc tại chỗ.
Các dây chằng giữ tử cung là những nếp của phúc mạc trong chứa các tổ chức như sợi cơ, sợi liên kết, sợi đàn hồi, sợi thần kinh. Cơ hoành đáy chậu và các tạng xung quanh như bàng quang, trực tràng cũng góp phần vào việc giữ tử cung tại chỗ [8], [25]. Thay đổi giải phẫu tử cung khi có thai * Thay đổi ở thân tử cung: Thân tử cung là bộ phận thay đổi nhiều nhất trong khi có thai và chuyển dạ. Trứng làm tổ ở niêm mạc tử cung và niêm mạc tử cung biến thành ngoại sản mạc.
Tại đây hình thành bánh rau, màng 4 rau, buồng ối để chứa thai nhi ở trong. Trong khi có thai thân tử cung thay đổi về kích thước, vị trí và tính chất. - Trọng lượng: Khi chưa có thai, tử cung nặng 50 – 60 gram. Sau khi thai và rau sổ ra ngoài, tử cung nặng trung bình 1000 gram (900 – 1200 gram).
- Dung tích: Khi chưa có thai, buồng tử cung có dung tích 1 - 4ml. Khi có thai dung tích buồng tử cung tăng lên tới 4000 – 5000ml, trong các trường hợp đa thai, đa ối dung tích buồng tử cung có thể tăng nhiều hơn nữa. Buồng tử cung khi chưa có thai đo được trung bình 7cm, vào cuối thời kỳ thai nghén, buồng tử cung cao tới 32cm. - Hình thể: Trong 3 tháng đầu, đường kính trước sau to nhanh hơn đường kính ngang nên tử cung có hình tròn.
Vào 3 tháng giữa tử cung có hình trứng, cực to ở trên, cực nhỏ ở dưới. Trong 3 tháng cuối hình thể tử cung phụ thuộc vào tư thế của thai nhi nằm trong buồng tử cung. - Vị trí: Khi chưa có thai, tử cung nằm ở đáy chậu, trong tiểu khung. Khi có thai tử cung lớn lên và tiến vào ổ bụng.
Tháng đầu, tử cung còn ở dưới khớp vệ. Từ tháng thứ 2, mỗi tháng tử cung phát triển cao lên phía trên khớp vệ 4cm. - Cấu tạo: Cơ ở thân tử cung gồm 3 lớp: lớp cơ dọc, lớp cơ vòng và lớp giữa (lớp cơ đan chéo). Khi sổ rau, lớp cơ đan chéo co chặt lại để tạo thành khối an toàn của tử cung, thít chặt các mạch máu lại, đảm bảo không chảy máu đó là sự cầm máu sinh lý.
Phúc mạc ở thân tử cung dính chặt vào lớp cơ tử cung, khi có thai phúc mạc phì đại và giãn ra theo cơ tử cung. Ở eo tử cung, phúc mạc có thể bóc tách được dễ dàng ra khỏi lớp cơ tử cung, ranh giới giữa hai vùng là đường bám chặt của phúc mạc. Đó là ranh giới để phân biệt đoạn thân tử cung với đoạn dưới tử cung. Người ta thường MLT ở đoạn dưới tử cung để có thể phủ được phúc mạc sau khi đã đóng kín vết mổ ở lớp cơ tử cung.
5 - Khả năng co bóp và co rút: Khi có thai khả năng co bóp và co rút của cơ tử cung tăng lên rất lớn. Tăng khả năng co bóp và co rút do: các sợi cơ tử cung đã tăng tình trạng dễ kích thích nên dễ bị co bóp hơn và các sợi cơ thường xuyên ở trong tình trạng giãn nên dễ dàng và sẵn sàng co rút lại [8], [25], [21]. * Thay đổi ở eo tử cung Trước khi có thai eo tử cung chỉ là một vòng tròn nhỏ, chiều cao 0,5 – 1cm nằm giữa thân và CTC. Khi có thai eo tử cung giãn rộng dần, dài và mỏng ra tạo thành đoạn dưới tử cung.
Đến cuối cuộc chuyển dạ đẻ đoạn dưới tử cung dài khoảng 10cm. Đối với sản phụ con so đoạn dưới tử cung được thành lập từ đầu tháng thứ 9. Còn ở người con rạ đoạn dưới tử cung được thành lập vào giai đoạn đầu của cuộc chuyển dạ. Đoạn dưới tử cung là phần dễ vỡ nhất trong cuộc chuyển dạ đẻ và dễ chảy máu khi có rau tiền đạo [21].
* Thay đổi ở cổ tử cung Khi có thai CTC mềm ra, mềm từ ngoài vào trung tâm. Vị trí và hướng CTC không thay đổi nhưng khi đoạn dưới được thành lập, CTC thường quay về phía xương cùng do đoạn dưới tử cung phát triển nhiều ở mặt trước hơn mặt sau. Khi bắt đầu chuyển dạ đẻ CTC xóa và mở [21]. Lịch sử phát triển của mổ lấy thai 1.
Định nghĩa mổ lấy thai Mổ lấy thai (MLT) là trường hợp thai và phần phụ của thai được lấy ra khỏi buồng tử cung qua đường rạch của thành tử cung và đường rạch của thành bụng. Định nghĩa này không bao hàm mở bụng lấy thai trong trường hợp chửa trong ổ bụng và vỡ tử cung thai đã nằm trong ổ bụng [16]. Sơ lược về lịch sử mổ lấy thai Theo sử sách của người Ai Cập, MLT đã được đề cập vào những năm 3000 năm trước công nguyên. Khi ấy MLT chỉ được thực hiện trên người mẹ 6 mới chết hoặc đang hấp hối để cứu con.
Năm 1610, Jaremiah Trautmanm (Đức) ủng hộ việc phẫu thuật lấy thai và đã báo cáo 15 trường hợp thành công. Năm 1882, Max Sanger (Đức) giới thiệu phương pháp mổ dọc thân tử cung để lấy thai có khâu phục hồi cơ tử cung 2 lớp và ông đã xuất bản một cuốn sách dày 200 trang với tên "Kỹ thuật mổ lấy thai" gọi là kỹ thuật Sanger. Năm 1904, Williams đã xuất bản cuốn sách giáo khoa nổi tiếng về phương pháp phẫu thuật lấy thai chuẩn mực trong thực hành sản khoa [10]. Vào những năm 1950, gây mê hồi sức đã có bước tiến mới trong việc áp dụng các phương tiện gây mê hiện đại, thuốc tê, thuốc mê mới thì phẫu thuật MLT thực hiện an toàn hơn, đảm bảo hơn cho mẹ và con.
Ở Việt Nam, trước năm 1950 do nguy cơ nhiễm khuẩn lớn, chưa có kháng sinh và hạn chế của gây mê nên MLT được áp dụng rất hạn chế. Sau khi kháng sinh ra đời, MLT mới được áp dụng rộng rãi. Năm 1956 phẫu thuật mổ dọc đoạn dưới tử cung lấy thai được áp dụng đầu tiên tại khoa sản Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội). Ngày nay MLT đang được áp dụng rộng rãi trên toàn quốc.
Chỉ định mổ lấy thai: Chỉ định MLT có thể phân thành hai loại chỉ định: - Những chỉ định MLT chủ động khi chưa có chuyển dạ. - Những chỉ định MLT trong chuyển dạ. Các chỉ định mổ lấy thai chủ động 1. Khung chậu bất thường - Khung chậu hẹp toàn diện là khung chậu có tất cả các đường kính giảm đều cả eo trên và eo dưới.
Đặc biệt đường kính nhô – hậu vệ ≤ 8,5 cm. 7 - Khung chậu méo dựa vào đo hình trám Michaelis không cân đối và đường kính nhô – hậu vệ ≤ 8,5 cm. Bình thường hình trám Michaelis có đường chéo góc trên – dưới (gai sau đốt sống thắt lưng V đến đỉnh liên mông) dài 11 cm và đường chéo góc ngang (liên gai chậu sau trên) dài 10 cm, hai đường chéo này vuông góc với nhau. Đường chéo góc trên – dưới chia đường chéo góc ngang thành 2 phần bằng nhau mỗi bên 5 cm, đường chéo góc ngang chia đường chéo góc trên dưới thành hai phần: phía trên 4 cm, phía dưới 7 cm.
Nếu khung chậu méo thì 2 đường chéo này cắt nhau không cân đối, không vuông góc và hình trám được hợp thành bởi 2 tam giác không cân. - Khung chậu hình phễu: khung chậu biến dạng làm eo trên rộng, hẹp eo dưới. Thai lọt dễ dàng qua eo trên nhưng khó sổ hoặc không sổ được qua eo dưới. Chẩn đoán dựa vào đo đường kính lưỡng ụ ngồi.
Nếu đường kính lưỡng ụ ngồi ≈ 9 cm thai sẽ không sổ được, nên có chỉ định MLT chủ động [20]. Đường xuống của thai nhi bị cản trở - Khối u tiền đạo: u xơ ở đoạn dưới tử cung, khối u buồng trứng (hoặc các khối u khác) ngăn cản quá trình lọt, xuống và sổ của thai [39]. - Rau tiền đạo trung tâm, bán trung tâm: nên mổ chủ động khi thai đủ tháng để tránh chảy máu nhiều khi chuyển dạ nguy hiểm đến tính mạng của sản phụ và thai nhi [20], [41]. Tử cung có sẹo mổ cũ Sẹo mổ ở thân tử cung trước khi có thai lần này như: Sẹo mổ bóc nhân xơ tử cung, sẹo mổ tạo hình tử cung, sẹo MLT từ 2 lần trở lên, sẹo MLT dưới 24 tháng, sẹo MLT cũ và ngôi thai bất thường, sẹo MLT cũ và thai to.
Những trường hợp này có nguy cơ nứt sẹo trong thời kỳ mang thai và dễ vỡ tử cung trong chuyển dạ. Nghiên cứu của Lộc Quốc Phương và cs (2016) trên các sản phụ có sẹo MLT ở tuổi thai ≥ 37 tuần cho kết quả: chỉ định MLT tuyệt đối ở sản phụ có sẹo MLT do sản phụ MLT ≥ 2 lần là 13,2%, do sẹo MLT cũ < 24 8 tháng 7,64% và do sẹo MLT xấu dính 1,4% [29]. Nghiên cứu của Đinh Văn Sinh và cs (2011) trên 110 sản phụ có sẹo mổ đẻ cũ được chẩn đoán là rau tiền đạo cho kết quả: tỉ lệ MLT ở bệnh nhân bị rau tiền đạo có sẹo mổ đẻ cũ là 99%, trong đó mổ chủ động chiếm 64,2% và mổ cấp cứu chiếm 35,8% [30]. Chỉ định về phía mẹ - Các bệnh tim ở giai đoạn mất bù trừ (suy tim).