ĐẶT VẤN ĐỀ Gãy xương đòn chiếm khoảng 2-4% của tất cả gãy xương và khoảng 35% - 43% trong những chấn thương đai vai, thường là do đập trực tiếp hoặc do té chống tay, chủ yếu do cơ chế chấn thương gián tiếp chiếm 80% [22], [25], [26]. Tại Việt Nam, tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu gây gãy xương đòn, chiếm khoảng 85% [11]. Do đặc điểm giải phẫu của xương đòn nằm nông sát da nên khi gãy dễ nắn chỉnh nhưng khó cố định. Có nhiều phương pháp điều trị gãy xương đòn, mỗi phương pháp có những ưu và nhược điểm riêng.
Nhìn chung, các phương pháp điều trị bảo tồn chỉ có tác dụng bất động ổ gãy tương đối, dễ bị di lệch thứ phát. Mặc dù vậy, xương đòn rất dễ liền, và với các di lệch nhỏ, trong giới hạn cho phép thì không ảnh hưởng nhiều đến chức năng. Do đó, điều trị bảo tồn vẫn là phương pháp điều trị phổ biến trước đây. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy đối với những trường hợp gãy đầu ngoài xương đòn, gãy xương đòn di lệch chồng ngắn trên 2cm, gãy xương đòn phức tạp…việc điều trị bảo tồn có nhiều nhược điểm như chậm liền, khớp giả hoặc tạo can chèn ép bó mạch dưới đòn nên phẫu thuật điều trị gãy xương đòn được thực hiện ngày càng nhiều [6], [20].
Có nhiều phương pháp kết hợp xương trong điều trị gãy xương đòn như: đóng đinh nội tủy, cột vòng chỉ thép, nẹp vít,.Tuy nhiên, các phương pháp đóng đinh nội tủy, cột chỉ thép ngày nay ít được sử dụng vì có nhiều biến chứng như chậm liền xương, khớp giả, lộ đinh, tụt đinh, nhiễm trùng chân đinh. Judd và cộng sự (2009) đã ghi nhận tỷ lệ cao bệnh nhân bị biến chứng sau mổ kết hợp xương đòn bằng đinh nội tủy [44]. Phương pháp điều trị gãy xương đòn bằng kết hợp xương nẹp vít cho thấy có nhiều ưu điểm như nắn chỉnh hết di lệch, cố định vững chắc, bệnh nhân có thể tập vận động sớm qua đón hạn chế được biến chứng cứng khớp vai do bất động kéo dài cũng như khắc phục được các biến 2 chứng can lệch, khớp giả do di lệch thứ phát [52]. Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy phương pháp này cho kết quả điều trị rất tốt cả trên phương diện liền xương và phục hồi chức năng.
Tại khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Quây Y 120, điều trị gãy 1/3 ngoài xương đòn bằng phương pháp kết hợp xương nẹp vít đã được triển khai bước đầu cho kết quả rất khả quan. Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống phương pháp này. Từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X quang và đánh giá kết quả điều trị gãy kín 1/3 ngoài xƣơng đòn bằng phƣơng pháp kết hợp xƣơng nẹp vít tại bệnh viện quân y 120 năm 2018- 2019” với hai mục tiêu sau: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X quang của bệnh nhân gãy 1/3 ngoài xương đòn điều trị tại Bệnh viện Quân y 120 năm 2018 – 2019.
Đánh giá kết quả điều trị gãy kín 1/3 ngoài xương đòn bằng phương pháp kết hợp xương nẹp vít tại Bệnh viện Quân y 120. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lƣợc đặc điểm giải ph u và chức năng của xƣơng 1. Giải phẫu Xương đòn là một xương dài nằm ngang ở trên và trước ngực, từ xương ức đến xương vai.
Ở 2/3 trong xương cong lõm ra sau, ở 1/3 ngoài xương cong lõm ra trước tạo nên xương có hình chữ S. Hình thể ngoài xương đòn “Nguồn: Richard L. Drake, 2005 [59]” Điểm yếu của xương là chỗ nối 2/3 trong và 1/3 ngoài. Xương đòn có 2 mặt, 2 bờ và 2 đầu, mặt trên của xương phẳng ở 1/3 ngoài và lồi ở 2/3 trong, ở giữa nhẵn, 2 đầu xương gồ ghề.
Bờ xương cong hình chữ S, bờ trước dày, bờ sau mỏng. Đầu trong to hơn đầu ngoài có diện tiếp khớp với xương ức, đầu ngoài dẹt 4 và rộng có diện tiếp khớp với mỏm cùng vai. Xương đòn có ống tuỷ ở giữa và tổ chức xốp ở hai đầu [14], [5]. Cơ thang Cơ ức đòn chủm Dây chằng ức đòn Cơ ngực lớn Trọng lượng cánh tay Hình 1.2: Di lệch trong gãy xương đòn “Nguồn: Benjamin P Kleinhenz, 2019 [47]” Liên quan về cơ: cơ ức đòn chũm và cơ ngực to bám ở nửa trong của xương, cơ Delta và cơ thang bám ở nửa ngoài của xương.
Khi gãy xương đòn ở 1/3 giữa, cơ Delta, cơ dưới đòn và trọng lượng chi kéo đoạn ngoài xuống dưới, cơ ức đòn chũm kéo đoạn trong lên trên làm xương gãy di lệch nhiều [6], [47]. Liên quan thần kinh-mạch máu: Các nhánh thần kinh trên đòn xuất phát từ rễ C3 và C4; bao gồm 3 nhánh (trước, giữa và sau) đi ngang qua phía trước trên xương đòn. Do đó, những nhánh này thường bị tổn thương khi phẫu thuật. Khi bị tổn thương thường sẽ gây cảm giác tê bì quanh vết mổ.
Phức tạp hơn, đôi khi sẽ phát triển thành một khối u thần kinh gây đau kéo dài ảnh hưởng đến kết quả 5 phẫu thuật. Vì vậy một số tác giả đề nghị nên xác định và bảo tồn những nhánh thần kinh này [49], [52]. Các nhánh thần kinh trên đòn (mũi tên trắng) được bảo tồn trong phẫu thuật kết hợp xương gãy xương đòn bằng nẹp vít “Nguồn: Ernest Kwek, 2017 [49]” Tĩnh mạch dưới đòn nằm sát bên dưới cơ dưới đòn và phía trên xương sườn thứ nhất. Kế bên về phía sau là động mạch dưới đòn và đám rối cánh tay, có lớp cơ răng trước đi giữa động mạch và tĩnh mạch (Hình 1.
Đám rối thần kinh cánh tay nằm gần nhất với xương đòn tại phần giữa, do đó cần phải rất cẩn thận để không phạm đến khi sử dụng máy khoan, ốc vít hoặc dụng cụ [52]. 6 Cơ ức đòn chủm Cơ thang Cơ ngực lớn Cơ răng trước Xƣơng đòn Cơ dưới đòn Đám rối thần kinh cánh tay Động mạch dưới đòn Tĩnh mạch dưới đòn Xương sườn thứ nhất Cơ ngực bé Hình 1. Cấu trúc xung quanh xương đòn “Nguồn: Michael D. McKee, 2015 [52]” Gần đầy Shina và cộng sự đã nghiên cứu trên các phim chụp mạch máu ở vùng đầu, cổ, và vai để tìm mối liên quan giữa 3 cấu trúc giải phẫu trên so với xương đòn.
Theo nghiên cứu, vị trí 1/3 trong giữa là điểm xương đòn gần với hệ thống mạch máu dưới đòn nhất. Và ở vị trí 1/3 giữa khoảng cách từ xương đòn đến tĩnh mạch là 13mm và đến động mạch là 17mm và nằm trong một góc 50 – 700 so với mặt phẳng ngang (Hình 1. Và càng ra ngoài thì khoảng cách này càng lớn [52]. 7 Mặt trước Mặt sau Xương đòn Mặt phẳng ngang TM ĐM TM: Tĩnh mạch ĐM: Động mạch Hình 1.
Liên quan hướng mạch máu với xương đòn “Nguồn: Michael D. Chức năng của xương đòn Tăng sức mạnh cho chi trên khi cánh tay hoạt động ở tầm trên vai [12]. Bảo vệ cấu trúc mạch máu và thần kinh dưới đòn. Là chỗ bám cho một số cơ lớn treo đai vai và khớp vai.
Tham gia cử động của đai vai. Sinh cơ học và biên độ vận động khớp vai Tầm hoạt động của khớp vai tạo ra do sự tham gia của các thành phần Khớp cánh tay - ổ chảo: đây là loại khớp chỏm trong ổ khớp có 3 loại cử động có thể xảy ra đồng thời: xoay, lăn và trượt. Khớp bả vai – lồng ngực: đây là loại khớp đặc biệt vì không có một cấu trúc nào về dây chằng với lồng ngực. Di động khớp vai là di động trượt lên nhau của hai cơ dưới vai và cơ răng cưa trước.
Nhờ đó khớp vai có tầm hoạt động 8 khớp rất rộng rãi. Khi khớp vai dạng 1800 thì 2/3 tầm độ khớp vai thuộc khớp cánh tay ổ chảo và 1/3 còn lại thuộc khớp bả vai – lồng ngực. Cột sống: góp phần làm tăng hoạt động khớp vai: khi tay với tới một điểm xa hơn trên đầu thì các đốt sống rời xa, xương sườn nâng lên và điểm với cao hơn vài centimet. Khớp cùng đòn: là khớp có hoạt dịch nhỏ, sự vững của khớp tùy thuộc vào dây chằng quạ đòn và hệ này cho phép xương bả vai cử động theo 3 trục: theo trục dọc nhờ tác động của dây chằng nón.
Theo trục ngang mặt phẳng trán nhờ vào tác động của dây chằng thang như bản lề cho cử động xoay xương bả vai. Theo trục ngang mặt phẳng dọc: dây chằng nón được kéo dài khi xương bả vai xoay ra sau. Khớp ức đòn: có các cử động gồm: kéo, lên xuống và xoay. Cấu trúc giữ vững khớp ức đòn gồm 2 bó trên ngoài và trên trong.
Tầm vận động bình thường, bắt đầu khi khớp vai ở vị trí 00 [2] , [7], [24]. Kiểu vận động Vòng vai Khớp vai Dạng – khép 1800 – 00 – 750 900 – 00 – 200 Đưa trước – sau 1800 – 00 – 600 900 – 00 – 450 Xoay ngoài – trong 900 – 00 – 850 900 – 00 – 300 Bảng 1.1: Tầm vận động vòng vai – khớp vai [2], [7] 1. Đặc điểm lâm sàng gãy xƣơng đòn 1. Nguyên nhân và cơ chế chấn thương Có 2 cơ chế chính dẫn đến gãy xương đòn: trực tiếp và gián tiếp.
Với cơ chế trực tiếp lực tác động trực diện vào xương đòn (bị đánh, vật nặng rơi trúng,. Với lực gián tiếp liên quan đến té ngã chống tay hoặc va đập vùng mặt ngoài vai làm gãy điểm yếu chỗ nối 1/3 ngoài và 1/3 giữa [22], [30]. Nguyên nhân có thể gặp trong nhiều tình huống khác nhau như: TNGT, TNSH, TNLĐ hay TNTT. Hình thái giải phẫu bệnh Do hình thái giải phẫu và nguyên nhân chấn thương đã dẫn đến hình thái và tính chất ổ gãy cũng rất phức tạp có thể xảy ra gãy xương ở bất kỳ vị trí nào của xương đòn.
Song hay gặp ở vị trí 1/3 giữa của xương hoặc 1/3 giữa tiếp giáp 1/3 ngoài. Tính chất ổ gãy có thể là gãy ngang, gãy chéo vát không mảnh rời, gãy có di lệch lớn và di lệch rất điển hình là: đầu trong di lệch lên trên ra sau, đầu ngoài di lệch xuống dưới ra trước, vào trong. Cũng thường gặp gãy có nhiều mảnh rời do lực chấn thương mạnh, các đầu xương nhọn của mảnh rời có thể gây thương tổn đám rối thần kinh cánh tay, bó mạch dưới đòn, màng phổi và đỉnh phổi.