CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TẠI KHU VỰC XÂY DỰNG VÀ KẾT CẤU ÁO ĐƯỜNG ĐANG ÁP DỤNG TẠI CỤM CẢNG CÁT LÁI, TP. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Tp. Vị trí địa lý - Thành phố Hồ Chí Minh có toạ độ 10°10'÷10°38' Bắc và 106°22' ÷ 106°54' Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1,730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay.
Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế. Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn nhất của cả phía Nam, nối Nam Trung bộ, Nam Tây nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long bởi các tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, quốc lộ 51, Đại lộ Nguyễn Văn Linh, cao tốc Tp. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Cao tốc Tp. Hồ Chí Minh - Trung lương.
và tuyến đường sắt Thống Nhất, …Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, nó không chỉ có vai trò trọng yếu trong phát triển kinh tế, mà còn có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế kết hợp an ninh quốc phòng và môi trường của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. - Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm lan tỏa đô thị, công nghiệp và dịch vụ ,có điều kiện thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trình độ kỹ thuật cao; hợp tác phát triển khoa học - công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật, trình độ quản lý cao. - Nằm ở khu vực hạ lưu hệ thống sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, gần 5 Vùng biển Vũng Tàu - Cần Giờ , nơi tập trung các cảng biển quan trọng nhất của Vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam; nên Tp. Hồ Chí Minh có điều kiện xây dựng cảng biển (trên các sông Soài Rạp, sông Nhà Bè, sông Lòng Tàu, .), phát triển hệ thống các cảng cạn ICD, tổng kho trung chuyển tạo điều kiện giao lưu thương mại trong nước và quốc tế bằng đường Hàng hải.
- Nằm gần Bà Rịa - Vũng Tàu, trung tâm du lịch biển của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và có khu khai thác dầu khí trên biển; Tp. Hồ Chí Minh có điều kiện phối hợp để thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ có lợi thế ven biển, phát triển ngành công nghiệp năng lượng sử dụng khí thiên nhiên, mở rộng không gian kinh tế về phía Nam của tỉnh hướng ra biển, hội nhập vào quá trình phát triển kinh tế ven biển của cả nước. Bản đồ vị trí Tp. Điều kiện tự nhiên 1.
Điều kiện địa hình Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây. Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình như sau: - Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình (quận 9). - Vùng thấp trũng ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ).
Vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0. - Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn. Vùng này có độ cao trung bình 5-10m. - Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt.
Điều kiện địa chất Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám. Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23.4% diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley.
Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi. hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15,100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45,500 7 ha. Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò. Điều kiện khí tượng, thủy văn a.
Điều kiện Khí tượng - Khu vực xây dựng cảng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới - gió mùa, khí hậu trong năm chia làm 2 mùa chính rõ rệt: mùa khô và mùa mưa; - Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước và kéo dài đến tháng 3 - tháng 4 năm sau, với các đặc điểm khí hậu là lượng mưa ít, nhiệt độ trung bình của không khí thấp hơn so với mùa mưa. Hướng gió chủ đạo trong mùa khô là hướng Đông Bắc; - Mùa mưa hàng năm bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài tới tháng 11, lượng mưa lớn và thường có giông. Nhiệt độ trung bình không khí và độ ẩm không khí cao hơn so với trong mùa khô, hướng gió chủ đạo trong mùa mưa là hướng Tây và hướng Tây Nam; - Cuối mùa mưa là thời kỳ các cơn bão đi qua khu vực khảo sát, tuy nhiên tần suất xuất hiện của chúng không đáng kể và thường là chúng ở vào giai đoạn suy yếu (bão tan), chủ yếu là gây ra mưa lớn; - Các đặc trưng khí hậu cho khu vực khảo sát được sử dụng tài liệu quan trắc các yếu tố khí tượng của trạm khí tượng Tân Sơn Nhất (trạm có dãy số liệu quan trắc trong nhiều năm 1941-1987), cách khu vực xây dựng cảng khoảng 16km theo đường chim bay về phía Tây Nam. Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm là 27.2oC, nhiệt độ cực đại quan trắc được là 38.0oC (tháng 4/1959) và nhiệt độ không khí cực tiểu quan trắc được là 14.
Nhiệt độ trung bình tháng trong nhiều năm dao động trong khoảng từ 25. Độ ẩm tương đối của không khí Độ ẩm trung bình nhiều năm của không khí vào khoảng 83%, độ ẩm tương đối trung bình tháng thay đổi trong khoảng từ 69% đến 84% độ ẩm cực 8 đại là 100% và cực tiểu là 62%. Các giá trị cực tiểu của độ ẩm không khí thường quan trắc được vào các tháng cuối mùa khô (tháng 2 - tháng 3), và các giá trị cực đại của độ ẩm không khí thường xảy ra vào các tháng giữa mùa mưa (tháng 8 - tháng 9). Lượng mưa Lượng mưa phân bố không đều trong năm, chủ yếu là tập trung vào các tháng mùa mưa.
Theo tài liệu quan trắc tại trạm khí tượng Tân Sơn Nhất, lượng mưa trung bình năm là 1863mm. Tháng 06 và tháng 09 là 2 tháng có lượng mưa cao nhất năm (298mm và 364 mm), tháng 01 và tháng 02 là các tháng có lượng mưa thấp nhất năm (10mm và 4mm tương ứng). Tổng lượng mưa năm cực đại quan trắc được là 2.718mm (1980), tổng lượng mưa cực tiểu quan trắc được là 1. Hướng và tốc độ gió Trong mùa khô gió có hướng đặc trưng là hướng Bắc, Đông Bắc, trong mùa mưa hướng gió chủ đạo là Tây - Tây Nam.
Tốc độ gió trung bình nhiều năm là 2.8 m/s, tốc độ gió Vmax = 40 m/s. Điều kiện Thủy văn Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng. Sông Ðồng Nai Bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45,000 km². Với lưu lượng bình quân 20÷500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố.
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Tp. Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng.
Một số con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài 9 Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi.Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành. Khu vực xây dựng công trình nằm trên sông Đồng Nai ngoài lượng nước của bản thân còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hiện tượng thủy triều tại khu vực phía Nam biển Đông; ảnh hưởng này biểu hiện rất rõ nét trong mùa khô (mùa nước kiệt).
Chế độ thủy triều đặc trưng của khu vực xây dựng Cảng Cát Lái là bán nhật triều không đều, với biên độ triều tại vùng cửa sông có thể đạt tới 4m, tại bến phà Cát Lái có thể đạt trên 3m.