Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE HOP DONG VÔ HIỆU DO LUA DOI 1. Khái niệm Hop đồng vô hiệu 1. Khái niệm Hop đồng Tại Việt Nam, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thúc đây mạnh mẽ sự phát triển của đời sống kinh tế và xã hội. Những nhu cầu về sản xuất, kinh doanh, hợp tác kinh tế cũng như nhu cầu mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ và trao đổi tài sản ngày càng nhiều dẫn tới phát sinh các quan hệ xã hội.
Khi tham gia vào các quan hệ xã hội, Hợp đồng chính là một hình thức giúp biểu đạt ý chí và mục đích của các bên, giúp con người đáp ứng được các nhu cầu về vật chất và tinh thần. Do đó, các chế định về Hợp đồng luôn được xem là chế định cơ bản trong pháp luật dân sự, chiếm một vị trí trung tâm và có vai trò rất quan trọng. Đặc biệt, các chế định về Hợp đồng vô hiệu có vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh những quan hệ giao lưu dân sự, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Trước khi hiểu thế nào là Hợp đồng vô hiệu, chúng ta cần phải hiểu rõ Hợp đồng có nghĩa là gì? Tuy nhiên, dé hiểu thế nào là Hop dong, trước hết chúng ta cần phải có nhận thức chính xác về giao dịch dân sự.
Theo Chủ nghĩa Marx - Lenin, lịch sử loài người ton tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp và sản xuất hàng hóa. Sản xuất tự cung, tự cấp được hiểu là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người dân trong thời kỳ công xã nguyên thủy hay sản xuất của những người nông dân trong thời kỳ phong kiến. Trong khi đó, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó các sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác; thông qua việc trao đôi, mua bán. Thời điểm xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao đổi hàng hóa thì giao dich đã hình thành và giữ vai trò điều tiết các quan hệ xã hội.
Tại thời điểm đó, giao dịch có thé được hiểu là sự trao đổi tài sản nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của các bên; hoặc có thể được hiểu là quan hệ mà trong đó ít nhất một bên là thương nhân hoặc người giàu và biện pháp thông qua đó, thương nhân hoặc người có của tích lũy của cải cho mình [9, tr. Trong cuộc sống hiện tại, giao dịch được xem là một công cụ thông dụng bảo đảm cho các quan hệ dân sự được diễn ra trong hành lang pháp lý an toàn nhằm thúc đây giao lưu dân sự phát triển. Về bản chất “Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý đa dạng được thực hiện bởi ý chí của con người nhằm thu được một kết quả nhất định” [11, tr. Theo BLDS năm 2015 của Việt Nam, tại Điều 116 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [27].
Như vậy, giao dịch dân sự được hiểu là kết quả của việc làm phát sinh, thay đổi hoặc cham dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý (hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương, tức là hành vi của một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lý. Giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thê tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định. Thực tế hiện nay, Hợp đồng luôn là một loại giao dịch phô biến nhất, thông dụng nhất và thường xuyên xuất hiện trong đời sống hàng ngày của chúng ta, là căn cứ làm phát sinh, thay đôi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Hợp đồng ton tại vô cùng phong phú, da dạng, có thé là Hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê hoặc Hợp đồng cung cấp dịch vụ. Hợp đồng có thé tồn tại dưới hình thức băng lời nói hoặc bằng văn bản. Hợp đồng là một khái niệm có nguồn sốc lâu đời và là một chế định rất quan trọng của pháp luật dân sự Việt Nam. Từ BLDS năm 1995 cho đến BLDS năm 2005, khái niệm về hợp đồng đều có một bổ ngữ “dân sự” ở phía sau mà không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng” như những nghiên cứu cơ bản về hợp đồng.
Cu thé tại Điều 388 BLDS năm 2005 quy định về khái niệm Hop đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyên, nghĩa vụ dân sự” [24, Điều 388]. Cũng theo BLDS năm 2005, tại Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh của BLDS: “quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý. trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” [24. Điều 1], như vậy quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng được hiểu là bao gồm cả những quan hệ về hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh thương mại.
Theo đó, nếu trong khái niệm về hợp đồng, từ “dân sự” được đặt dang sau hai ttr “hợp đồng” sẽ dan đến việc khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn có cách hiểu rang những quy định về hợp đồng trong BLDS năm 2005 chỉ áp dụng cho các quan hệ dân sự thuần túy (phục vụ mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, không làm phát sinh lợi nhuận). Như vậy sẽ làm hạn chế phạm vi điều chỉnh của BLDS đối với các loại hợp đồng bao gồm cả hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh doanh, hợp đồng thương mại hay hợp đồng lao động. Khắc phục những hạn chế của BLDS năm 1995 và năm 2005, tại Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [27, Điều 385]. Như vậy, BLDS năm 2015 đã loại bỏ từ “dân sự” ở phía sau từ “hợp đồng”.
Quy định mới về khái niệm của Hợp đồng tại BLDS năm 2015 là điểm mới rất quan trọng, mang lại nhiều ý nghĩa không chỉ về mặt kỹ thuật lập pháp mà còn làm tăng tính khả thị, minh bach trong thực tiễn áp dụng, mở rộng phạm vi điều chỉnh dé đảm bảo rang BLDS là luật chung điều chỉnh mọi quan hệ hợp đồng. Theo BLDS năm 2015, Hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận, là kết quả của quá trình đàm phán, thương lượng và thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc cham dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau (Trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định không thé thay đôi hoặc chấm dứt bang sự thỏa thuận của các bên). Khái niệm Hop đồng vô hiệu Theo như khái niệm về Hợp đồng được ghi nhận tại BLDS năm 2015 thì Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đôi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Vì vậy nếu hợp đồng được thiết lập mà thiếu tính tự nguyện của các bên khi tham gia ký kết hợp đồng thì hợp đồng đó bị coi là vô hiệu và không thé làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ké từ thời điểm hợp đồng được xác lập.
Trong hệ thống pháp luật dân sự của Việt Nam, khái niệm hợp đồng vô hiệu không được định nghĩa một cách cụ thể mà được xác định thông qua việc đưa ra các tiêu chí về sự vô hiệu của hợp đồng. Theo từ điển Tiếng Việt, “vô hiệu” được hiểu là “không có hiệu lực, không mang lại kết quả” [22, tr. Như vậy, theo cách hiểu này thi hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không có hiệu lực, không mang lại kết quả. Về bản chất, Hợp đồng là những giao dịch pháp lý song phương hoặc đa phương, qua đó thé hiện sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, với mục dich là đạt được những hệ quả pháp lý nhất định bao gồm việc xác lập, thay đối hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên khi giao kết hợp đồng.
Như vậy, các bên trong quan hệ hợp đồng hoàn toàn được tự do thỏa thuận, tuy nhiên sự tự do này không phải là tuyệt đối, các bên khi tham gia hợp đồng đều bị điều chỉnh bởi pháp luật thông qua các điều kiện cụ thé mà các bên cần phải tuân thủ. Hợp đồng sẽ được pháp luật công nhận và có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng được những điều kiện nhất định mà pháp luật quy định. Ngược lại, những hợp đồng không đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định sẽ không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, từ đó bị coi là vô hiệu. Mặc dù sẽ có những quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung, khoa học pháp lý và pháp luật của các quốc gia trên thé giới đều thừa nhận những yếu tổ sau có thé dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu: Thứ nhất, Chủ thé không có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đông được xác lập: Đề đảm bảo sự bình đăng, thống nhất bày tỏ ý chí giữa các chủ thé khi tham gia giao kết hợp đồng, các chủ thể phải có khả năng nhận thức được hành vi của mình dé có thé tự mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.
Khi chủ thể tham gia giao kết hợp đồng nhưng không có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng được xác lập thì hợp đồng đó đương nhiên bị vô hiệu. Do vậy, điều kiện về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự của chủ thé là một trong những điều kiện mà pháp luật dân sự của các nước sử dụng để xác định hợp đồng được giao kết có hiệu lực không hay bị vô hiệu. 10 Các đối tượng mà pháp luật quy định không đảm bảo năng lực giao kết hợp đồng bao gồm: người chưa thành niên; người mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Thứ hai, Chủ thể tham gia giao kết không có sự tự nguyện: Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng.