CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU 1. Khái niệm và đặc điểm xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu 1. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Xét xử là giai đoạn trọng tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự, tại đây sự thật của vụ án có được làm sáng tỏ hay không, những vấn đề về bản chất của vụ án cần được làm rõ như xác định một người cụ thể có phạm tội hay không phạm tội, tội danh, hình phạt cần được áp dụng đối với họ như thế nào? Có quan điểm cho rằng: “Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư và cuối cùng của hoạt động tố tụng hình sự, là giai đoạn trung tâm và quan trọng nhất của hoạt động TTHS, mà trong đó các Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS tiến hành”. “Xét xử là xem xét và xử các vụ án.
Xét xử các tội phạm. Việc xét xử của Tòa án”, theo từ điển Tiếng Việt [43, tr.178] “Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền” , theo từ điển Luật học [42, tr. Khái niệm này mang tính khái quát chung của cả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự; v.v… và đã phản ánh được nét đặc trưng của xét xử sơ thẩm là xét xử “lần đầu tiên” một vụ án được đưa ra xét xử và do “một Tòa án có thẩm quyền” tiến hành. Theo tác giả Đinh Văn Quế: “Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật.
[22] 7 Luan van Trên cơ sở tham khảo, nghiên cứu các quan điểm nêu trên, tác giả luận văn cho rằng: “Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật”. Khái niệm tội phạm xâm phạm sở hữu Tội phạm xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu. Theo Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì các tội XPSH quy định các loại hành vi khách quan ở các dạng sau đây: + Hành vi chiếm đoạt tài sản là người phạm tội cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác thành tài sản “của mình”… + Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình không giao tài sản do ngẫu nhiên mà chiếm hữu được (ví dụ như: nhặt được, được chuyển khoản nhầm,…) sau khi chủ tài sản hay người quản lý hợp pháp tài sản hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. + Hành vi sử dụng trái phép là vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác mà khai thác giá trị, giá trị sử dụng các tài sản mà không được phép, không được sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc người có chức năng quản lý về nghiệp vụ đối với loại tài sản bị khai thác trái phép đó.
+ Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng tài sản là những hành vi được thể hiện thông qua đối tượng tác động làm mất hoàn toàn giá trị, giá trị sử dụng của tài sản (hủy hoại); làm mất giá trị từng phần có thể khôi phục được (làm hư hỏng) 8 Luan van + Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản là thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước hoặc vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản. Các hành vi XPSH có thể được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động. Riêng các tội phạm có tính chất chiếm đoạt chỉ có thể được thực hiện bằng hành động. Cách thức và hình thức chiếm đoạt rất đa dạng và được mô tả, khái quát thành những tội danh cụ thể.
Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu Từ sự phân tích khái niệm các nội dung có liên quan phía trên về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, có thể hiểu xét xử sơ thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu, cũng phải tuân thủ các quy định chung nhất của Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật hình sự. Tuy nhiên về kỹ năng xét xử, thì mỗi nhóm tội cũng có những đặc điểm riêng như khi xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu cần chú ý tới đối tượng bị xâm phạm, tầm quan trọng của khách thể đặc biệt trong nhóm các tội xâm phạm về sở hữu có những tội mà ở đó hành vi phạm tội xâm phạm tới cả hai khách thể là quyền sở hữu và quyền nhân thân như tội cướp tài sản Điều 168; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Điều 169; tội cưỡng đoạt tài sản Điều 170; tội cướp giật tài sản Điều 171. Xem xét tới các phương thức, thủ đoạn phạm tội, chủ thể thực hiện tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, động cơ mục đích phạm tội để có được những kỹ năng xét xử toàn diện các vụ án xâm phạm sở hữu. Do vậy có thể hiểu xét xử sơ thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu là: “Xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu là việc Tòa án thông qua phiên toà xem xét và phán quyết, toàn diện hành vi xâm phạm sở hữu mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử theo trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định”.
Đặc điểm Xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu có các đặc điểm cơ bản sau: Tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: 1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử, Tòa án nhân dân có quyền phán quyết cuối cùng trong hoạt động tố tụng, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xác định tội phạm, hình phạt và để phân xử, giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật trong đời sống xã hội thường ngày. Với vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng như vậy, hoạt động xét xử vụ án xâm phạm sở hữu của Tòa án nhân dân càng chính xác, khách quan, công bằng, nghiêm minh thì càng thể hiện bản chất ưu việt của Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Ngược lại, những sai lầm trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án, đặc biệt là việc xét xử oan, sai đều là những sai lầm nghiêm trọng và phải trả giá rất đắt. Do đó, tính nghiêm minh và sự công bằng trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân luôn là một trong những biểu hiện cụ thể nhất, sinh động nhất của nền công lý đất nước và là một trong những thước đo sự tiến bộ trong việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ của công dân và các quyền của con người dưới chế độ 10 Luan van xã hội chủ nghĩa.
Tòa án là cơ quan duy nhất được tiến hành hoạt động xét xử vụ án hình sự. Trong hoạt động xét xử án hình sự thì chỉ duy nhất do cơ quan Tòa án tiến hành. Mục đích của hoạt động xét xử vụ án hình sự là phải xem xét toàn bộ nội dung của vụ án, thông qua bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, trên cơ sở kiểm tra một cách toàn diện, khách quan các tài liệu, chứng cứ được tiến hành thu thập trong quá trình điều tra và đặc biệt là thực tế diễn biến của phiên tòa để Tòa án mà ở đây là Hội đồng xét xử xem xét, quyết định hành vi của một người có phải là tội phạm hay không phải là tội phạm. Đặc điểm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND còn thể hiện ở chỗ, việc ban hành bản án.
Đây là đặc điểm đòi hỏi Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân phải tôn trọng sự thật khách quan của các tình tiết vụ việc và tính tối thượng của luật pháp. Mặc dù trong cuộc sống hàng ngày khi không tham gia xét xử, thì người Thẩm phán là cán bộ, công chức của cơ quan Tòa án cũng phải tuân thủ mọi quy định của cơ quan và sự quản lý điều hành của Chánh án. Cũng tương tự như vậy, người Hội thẩm Tòa án nhân dân khi không tham gia xét xử thì cũng sống và làm việc bình thường như những công dân khác trong xã hội. Nhưng khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân phải thi hành bổn phận theo pháp luật mà không bị chi phối bởi bất kỳ yếu tố nào, không được phép xử án theo mệnh lệnh của bất kỳ ai, ngoài mệnh lệnh của các quy định pháp luật.
Thẩm phán là một chức danh cao quý, được chủ tịch nước bổ nhiệm để thực hiện quyền tư pháp, quyết định chất lượng xét xử của Tòa án, là nền tảng của một Tòa án công bằng, vô tư, khách quan và thượng tôn pháp luật. Để bảo đảm tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, đòi hỏi đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải luôn trung thành với Tổ quốc, gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật, phải là tấm 11 Luan van gương về phụng công thủ pháp, chí công vô tư, liêm chính, độc lập, khách quan, công bằng, tận tụy với công việc.