Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TOI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYEN HAN GAY ANH HUONG DOI VOI NGUOI KHAC DE TRUC LOI 1. Khái niệm và ý nghĩa của tội Lợi dung chức vụ, quyền hạn gây ảnh hướng đối với người khác để trục lợi 1. Khái niệm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi Từ điển Hán Việt giải thích một số thuật ngữ về lợi dụng, chức vụ, quyền hạn như sau: “Lợi dụng là dùng thủ đoạn hoặc dựa vào điều kiện thuận lợi dé đoạt lay lợi ích cho minh lợi ích này là lợi ích không chính đáng”, “Chức vụ là sự đảm nhiệm một vai trò, địa vị nào đó trong một tô chức, một tập thể”, “Quyền hạn được hiểu là quyền lực pháp lý của nhà nước được trao cho các cá nhân, tô chức trong giới hạn nhất định”. Thuật ngữ “trục lợi” theo từ điển tiếng việt được hiểu là được hiểu là kiếm lợi ích riêng một cách không chính đáng [33, tr.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác dé trục lợi là trường hợp đặc biệt của lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi bởi lẽ chủ thé chính là người có chức vụ quyền hạn và do có chức vụ quyền hạn đó nên họ có ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn liên quan đến việc của người đưa lợi ích vật chất. Theo đó, “lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn dé trục lợi là hành vi nhận lợi ích vat chất do (đã hoặc sẽ) tác động đến người có chức vụ, quyền hạn dé người này giải quyết công việc cho bên đưa lợi ích vật chất đó” [53, tr. Như vậy, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác dé trục lợi được hiểu là một người nào đó có chức vụ, quyền hạn đã cố găng dựa vào điều kiện thuận lợi về quyên han, chức vụ của mình dé gây ảnh hưởng đôi với người khác nhăm mục đích tìm kiếm lợi ích riêng một cách không chính đáng. Tức là hành vi trực tiếp hay qua trung gian nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chat dé dùng ảnh hưởng của mình thúc đây người có chức vụ quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm cua họ.
Hành vi Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi là hành vi làm trái với nhiệm vụ được giao của người có chức vụ, quyền hạn. Hành vi này có thể là làm không đúng, không đầy đủ, không kịp thời, hoặc là làm trái với quy định của Nhà nước hoặc của cơ quan. Theo như bản dịch tiếng Việt, thì điểm d Điều 2 Công ước Liên hiệp quốc về phòng chống tham nhũng được Việt Nam phê chuẩn ngày 03/7/2009 quy định: “Tài sản” có nghĩa là mọi loại tài sản, vật chất hay phi vật chất, động sản hay bất động sản hữu hình hay trừu tượng, và các văn bản pháp lý hay giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó. Do đó, dé tương thích với quy định của Công ước, BLHS đã bồ sung tình tiết “lợi ich phi vật chất” vào một số điều luật quy định về tội tham nhũng.
Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng bản dịch tiếng Việt đó là sai [17] bởi lẽ: Nguyên văn tiếng Anh của quy định này như sau: “Property” shall mean assets of every kind, whether corporeal or incorporeal, movable or immovable, tangible or intangible, and legal documents or instruments evidencing title to or interest in such assets” [45, Diéu 2 (d)]. Theo do, điều luật này được dịch như sau: “Tài sản” nghĩa là tài sản thuộc mọi loại, cho dù là quyền tài sản hữu hình hay vô hình, động sản hay bất động sản, hữu hình hay vô hình, văn bản hoặc văn kiện pháp lý chứng minh quyền sở hữu hay lợi ích trên tài sản đó. Như vậy, có sự khác biệt về cách hiểu thuật ngữ “corporeal or incorporeal” property” trong bản gốc Công ước. Theo bản dịch tiếng Việt hiện hành, thì thuật ngữ này nghĩa là “tài sản vật chất hay phi vật chất”; còn tác giả quan điểm trên cho rằng thuật ngữ nay chỉ “quyên tài sản hữu hình hoặc vô hình”.
Tác giả đồng ý với quan điểm trên vi theo từ điển thông thường, thi: “Corporeal: Vật chất, cụ thể, hữu hình; (pháp lý) cụ thể — corporeal property: tài sản hữu hình; Incorporeal: Vô hình, vô thể; thuộc thần linh, thiên thần; pháp ly: tai sản vô hình”. Tuy nhiên, theo Từ điển luật học (Black Law Dictionary, Mỹ) thì: “Corporeal property: 1. the right of ownership in material things; 2. Property that can be perceived, as opposed to incorporeal property; tangible property”, nghĩa là: “Quyền tài sản hữu hình: 1.
Quyền chủ sở hữu đối với vat thê vật chat; 2. Tài sản có thé nhìn thấy được, đối lập với tai san không nhìn thấy được; tài sản hữu hình”; “Incorporeal property: 1. An in rem proprietary right that is not classified as corporeal property. Incorporeal property is traditionally broken down into two classes: (1) jura in re aliena (encumbrances), whether material or immaterial things, examples, being leases, mortgages, and servitudes; and (2) jura in re propria (full ownership over immaterial things), examples being patents, copyrights and trademark.
Legal right in property having no physical existence. Patent rights, for example, are incorporeal property.”, nghĩa là: Quyền chủ sở hữu đối vật, không được phân loại là quyền tài sản hữu hình. Quyền tai sản vô hình truyền thống được chia thành 2 loại: (1) jura in re aliena, cho dù vật thê là chất hay phi vật chất, ví dụ là hợp đồng thuê, thé chấp, quyền địa dịch; và (2) jura in re propria (quyền sở hữu day đủ đối với vật thể phi vật chất), vi dụ là sáng chế, quyên tác giả, nhãn hiệu hàng hóa. quyền pháp lý đối với tài sản không tồn tại vật chất.
Vi dụ, quyền sáng chế là tài sản vô hình. Như vậy, trong Điều 2 (d) không có thuật ngữ nào chỉ tài san là “vat chất” (material) hay “phi vật chất” (non-material). Do đó, không nên chọn nghĩa thứ hai trong từ điển luật học cho cụm từ ‘corporeal/incorporeal’ là “hữu hình/vô hình”, bởi lẽ nghĩa nay đã được dùng cho cụm từ “tangible/intangible” đi sau 10 đó, và cách dùng này là đúng. Nguyên tắc chung trong xây dựng pháp luật là không dùng hai hoặc nhiều từ chỉ cùng một đối tượng.
Bởi vậy, phải chọn nghĩa thứ nhất của cụm “corporeal/incorporeal”, nghĩa là Quyên tai sản đối với tài sản hữu hình hoặc vô hình. Kết lại, Điều 2 (d) Công ước Liên hiệp quốc về phòng chống tham nhũng phải được hiểu răng “tài sản” có thé đưới các hình thức: (1) Quyên tài sản; (2) Động sản hoặc bat động sản: (3) Hữu hình hoặc vô hình; va (4) Văn bản hoặc giấy tờ pháp lý (chứng minh quyền và lợi ích trên tài sản đó). Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thúc đây người khác là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó có thé thực hiện việc thúc đây người khác làm hoặc không làm một việc; chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện việc thúc đây người khác. Hành vi Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi được coi là tội phạm quy định tại Điều 358 BLHS 2015.
Do đó dé đưa ra được khái niệm đầy đủ về tội Lợi dụng chức vu, quyền han gây ảnh hưởng đối với người khác dé trục lợi là như thé nào cần làm rõ khái niệm tội phạm. Tội phạm theo từ điển tiếng việt được hiểu là hành VI nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật [33, tr. Tai BLHS năm 2015 đã khái niệm tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyên con người, quyên, lợi ich hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [44, Điều 8]. 11 Định nghĩa tội phạm trên đây là định nghĩa có tính khoa học thể hiện nhất quán quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm.
Định nghĩa này là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thé trong Phan các tội phạm của BLHS 2015 va cũng là cơ sở cho việc nhận thức va áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thé. Về mặt lý luận, có thê định nghĩa tội phạm một cách khái quát như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và phải chịu hình phạt” [57, tr. Chi khi hành vi Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác dé trục lợi thỏa mãn tất cả các dấu hiệu của tội phạm thi mới được coi là phạm tội Lợi dụng chức vụ, quyền han gây anh hưởng đến người khác để trục lợi. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm như sau: Tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi là hành vi của người có chức Vụ, quyền hạn đã dựa vào điều kiện thuận lợi về quyền hạn, chức vụ của mình, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tién, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dé thúc đẩy người có chức vụ, quyén hạn khác làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm cua họ, gáy thiệt hai cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyển và lợi ích hợp pháp của công dan.
Qua khái niệm cho thấy bản chất hành vi phạm tội này thé hiện mối quan hệ tương quan giữa 3 bên chủ thể là: người đưa lợi ích, người nhận lợi ích và người bị gây ảnh hưởng bởi người nhận lợi ích. Trong đó, người nhận lợi ích có hành vi phạm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi theo Điều 358 BLHS.