Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ 1.1 Những khá n ệm có l ên quan 1. Quyền lực và phân loại quyền lực Quyền lực có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, tựu chung lại, quyền lực chính là việc sử dụng sức mạnh ý chí của người này tác động, kiểm soát ý chí, hành động của người khác, làm cho họ phục tùng mình, thực hiện hành vi theo những gì mình mong muốn để đạt được một hoặc một số mục tiêu nhất định. Dựa trên hình thái quyền lực phân thành quyền lực cứng và quyền lực mềm; theo các lĩnh vực của đời sống xã hội chúng ta có quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, quyền lực văn hóa, quyền lực tôn giáo, quyền lực gia đình; theo phương thức tổ chức và thực thi quyền lực có quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, quyền lực nhân dân.
Tầm ảnh hưởng của mỗi loại quyền lực lên đối tượng chi phối cũng theo đó mà khác nhau. Tuy nhiên về phạm vi, cách thức thực hiện thì bản thân tác giả cho rằng quyền lực nhà nước có tầm ảnh hưởng rộng nhất và được tổ chức chặt chẽ nhất. Quyền lực nhà nước Các Mác và Ăng Ghen cho rằng “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy trấn áp của giai cấp này đối với một giai cấp khác” [1, tr. Có quan điểm khác lại khẳng định “suy cho cùng thì quyền lực nhà nước là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội trên cơ sở pháp luật và sự tuân thủ, chấp hành pháp luật của mọi cá nhân, tổ chức” [3, tr.
Riêng bản thân tác giả cho rằng quyền lực nhà nước là cách thức mà nhà nước, thông qua các cơ quan trong 10 hệ thống bộ máy của mình, bằng hệ thống pháp luật tác động lên xã hội để đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra. Tác giả cũng đồng ý với quan điểm của V.Lênin cho rằng “Vấn đề chính quyền nhà nước nhất định là vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng. Giai cấp nào giữ chính quyền? Điều đó quyết định tất cả” [4, tr286]. Cụ thể ở nước ta, nói quyền lực nhà nước chính là nói tới quyền lực của Nhân dân, mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, cũng đồng nghĩa với việc Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, là chủ thể trao quyền cho nhà nước.
Điều này đã được Hiến pháp năm 2013 khẳng định tại khoản 2 Điều 2 và văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, Hiến pháp năm 2013 cũng hiến định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Khoản 3 Điều 2). Cơ quan hành chính nhà nước Theo quy định tại Điều 94 Hiến pháp năm 2013: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”. Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao. Người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ là Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến 11 ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc và báo cáo công tác trước Chính phủ, Thủ tướng chính phủ. Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu. Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên.
Cơ quan tham mưu, giúp việc của Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên là các cơ quan chuyên môn. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm có sở và cơ quan ngang sở (gọi chung là sở). Thông thường, cơ cấu tổ chức của sở gồm có Văn phòng, phòng chuyên môn nghiệp vụ, thanh tra, chi cục và đơn vị sự nghiệp. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm có phòng và các cơ quan tương đương phòng (gọi chung là phòng).
Ngoài cơ cấu cứng gồm: Phòng Nội vụ, Phòng Tư pháp, Phòng Tài chính – Kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Thanh tra huyện và Văn phòng thì ở một số huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thể thành lập các cơ quan chuyên môn phù hợp với tình hình của từng địa phương cụ thể với mục đích đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả, tinh gọn. Ví dụ như: ở các quận, thị xã có thể có Phòng Kinh tế, Phòng Quản lý đô thị; ở các huyện có thể có Phòng Dân tộc, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế và Hạ tầng. Kiểm soát, kiểm soát quyền lực nhà nước và kiểm soát các cơ quan hành chính nhà nước Kiểm soát là việc quan sát, xem xét, theo dõi, đánh giá một hoặc một số hoạt động nào đó nằm trong phạm vi quyền hạn của chủ thể có quyền, đảm 12 bảo các hoạt động được thực hiện theo các mục tiêu, chuẩn mực đã đặt ra. Ngăn chặn những hành vi sai trái.
Phát hiện những hạn chế và đề ra phương hướng để đối tượng bị kiểm soát thực hiện hoạt động tốt hơn. Kiểm soát quyền lực nhà nước là tổng thể các biện pháp để đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện đúng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Quyền lực nhà nước được kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; được kiểm soát bằng nội bộ các cơ quan hoặc ngoài nhà nước như thông qua phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội, cử tri, báo chí, khiếu nại, tố cáo của công dân. Kiểm soát các cơ quan hành chính nhà nước, tương tự như kiểm soát quyền lực nhà nước, cũng là tổng thể các biện pháp để đảm bảo cho hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước theo đúng Hiến pháp và pháp luật, đạt được mục tiêu nhất định.
Hạn chế đến mức thấp nhất việc áp dụng sai quy định của pháp luật, hành vi lợi dụng quyền hạn gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Kiểm soát các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện thông qua quyền kiểm soát tối cao của Quốc hội, giám sát của Hội đồng nhân dân; kiểm soát của Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra nhân dân; Kiểm soát mang tính nội bộ như Thanh tra Nhà nước; kiểm soát thông qua các cơ quan tố tụng, hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân và các hình thức kiểm soát ngoài nhà nước. Hành vi vi phạm của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền bị kiểm soát Hành vi vi phạm của các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước (sau gọi chung là người có thẩm quyền) khi thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành có thể phân thành hai dạng là hành động và không hành động. Ở dạng vi phạm hành động gồm có: 13 Ban hành văn bản (văn bản quy phạm pháp luật, quyết định hành chính cá biệt) không đúng quy định của pháp luật (về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung, hình thức); thực hiện hành vi vi phạm đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Ở dạng không hành động vi phạm, thuộc trường hợp pháp luật quy định cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền phải ban hành văn bản hoặc thực hiện một, một số công việc nhất định nhưng không thực hiện. Ví dụ 1: Ông A khiếu nại Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B. Ông A đã khiếu nại đúng trình tự theo Luật Khiếu nại, tuy nhiên hết thời thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B không giải quyết khiếu nại (không xác minh nội dung, không tổ chức đối thoại, không ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu). Ví dụ 2: Bà B đến Phòng Đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ để đăng ký thành lập Công ty TNHH Một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu.
Thành phần, số lượng hồ sơ bà B nộp đầy đủ, hợp lệ, vào ngày làm việc theo quy định nhưng anh N, người được giao nhiệm vụ tiếp nhận không đồng ý tiếp nhận hồ sơ. Nhận diện hành vi vi phạm: Chúng ta có thể nhận diện qua các dấu hiệu cơ bản gồm: Chủ thể (cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền); khách thể: Xâm phạm hoạt động thi hành, thực hiện pháp luật, hoạt động hoạch định và điều hành chính sách. Xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; mặt khách quan: Hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật là nguyên nhân gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức; mặt chủ quan: Yếu tố lỗi, động cơ, mục đích; các quy định của pháp luật về từng vấn đề cụ thể trong hoạt động chấp hành, điều hành. Hoạt động xét xử 14 Hoạt động xét xử là hoạt động trọng tâm trong thực hiện quyền tư pháp, được hiểu là quá trình thụ lý, giải quyết các loại án bao gồm án dân sự, hình sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và thụ lý, giải quyết các yêu cầu (gọi chung là việc dân sự) bao gồm yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Kết quả của hoạt động xét xử là các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trên cơ sở quy định của pháp luật, xem xét tính hợp pháp, hợp lý của hành vi, đem lại sự công bằng, công lý cho tổ chức, cá nhân.