phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 phần chính: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về năng lực thực thi công vụ của công chức Tƣ pháp – Hộ tịch cấp xã. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Tƣ pháp – Hộ tịch cấp xã ở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Chƣơng 3: Một số quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Tƣ pháp – Hộ tịch cấp xã ở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. 8 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC TƢ PHÁP – HỘ TỊCH CẤP XÃ 1.
Công chức cấp xã và công chức Tƣ pháp - Hộ tịch cấp xã 1. Công chức Khái niệm “công chức” thƣờng đƣợc hiểu khác nhau giữa các quốc gia, bị chi phối bởi các yếu tố nhƣ hệ thống thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nƣớc, yếu tố văn hóa, lịch sử. Do đặc điểm cấu trúc của hệ thống chính trị nƣớc ta, quan niệm về công chức ở Việt Nam cũng có những nét đặc thù. Trƣớc đây, trong một số nghị quyết của Đảng cũng nhƣ một số văn bản pháp quy, mặc dù chƣa đƣa ra đƣợc định nghĩa rõ ràng nhƣng đã có đề cập đến khái niệm về công chức.
Đến năm 1998, khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, cụm từ “cán bộ, công chức” đƣợc gọi chung cho những ngƣời làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, nhà nƣớc, đoàn thể. Tuy nhiên, vấn đề ai là “cán bộ”, ai là “công chức” vẫn chƣa đƣợc phân biệt. Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ban hành ngày 13/11/2008 của Quốc Hội, tại khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức quy định [39]: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy 9 Luan van lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Ngày 25/11/2019, tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, có hiệu lực từ ngày 01/7/2020 [44].
Tại khoản 1, Điều 1, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức quy định: Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tƣơng ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Công chức cấp xã Tại Khoản 3, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định [39]: “…Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Công chức cấp xã là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch thuộc biên chế của xã, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc và làm công tác chuyên môn theo quy định của pháp luật thuộc Ủy ban nhân dân xã, có trách nhiệm giúp ủy ban nhân dân xã quản lý nhà nƣớc trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND xã giao. Công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã Theo Khoản 2, Điều 3, Chƣơng II của Nghị định số 92/2009/NĐ – CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định [18] công chức xã có 07 chức danh cụ thể nhƣ sau: Trƣởng Công an; Chỉ huy trƣởng Quân sự; Văn phòng – 10 Luan van Thống kê; Địa chính – Xây dựng – Đô thị và Môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc Địa chính – Nông nghiệp – Xây dựng và Môi trƣờng (đối với xã); Tài chính – Kế toán; Tƣ pháp – Hộ tịch; Văn hóa – Xã hội.
Nhƣ vậy, công chức Tƣ pháp – Hộ tịch cấp xã là một trong 7 chức danh công chức xã. Theo Điều 81, Nghị định số 158/2005/NĐ – CP về đăng ký và quản lý hộ tịch [15] quy định về công chức Tƣ pháp – Hộ tịch cấp xã nhƣ sau: - Công chức Tƣ pháp – Hộ tịch là công chức cấp xã, giúp UBND cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch. Đối với những xã, phƣờng, thị trấn có đông dân cƣ, số lƣợng công việc hộ tịch nhiều, thì phải có cán bộ chuyên trách làm công tác hộ tịch, không kiêm nhiệm các công tác tƣ pháp khác. - Công chức Tƣ pháp – Hộ tịch phải có đủ các tiêu chuẩn của cán bộ công chức cấp xã theo quy định của pháp luật về CBCC và phải có thêm các tiêu chuẩn sau đây: + Có bằng tốt nghiệp trung cấp luật trở lên; + Đƣợc bồi dƣỡng nghiệp vụ về công tác hộ tịch; + Chữ viết rõ ràng.
- Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, khen thƣởng, kỷ luật đối với cán bộ Tƣ pháp – Hộ tịch đƣợc thực hiện theo quy định chung của pháp luật đối với công chức cấp xã. - Cán bộ Tƣ pháp – Hộ tịch phải thực hiện những nghĩa vụ và đƣợc hƣởng những quyền lợi của CBCC mà pháp luật quy định đối với công chức cấp xã. Đặc điểm của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã Công chức Tƣ pháp – Hộ tịch mang đặc điểm chung của công chức cấp xã, đồng thời có những đặc điểm riêng biệt. Cụ thể nhƣ sau: 1.
Đặc điểm chung Thứ nhất, công chức cấp xã phải đáp ứng các yêu cầu nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, phẩm chất đạo đức, chính trị, sức khỏe. 11 Luan van nhằm triển khai thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã. Theo quy định tại Thông tƣ 06/2012/TT – BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ, công chức cấp xã phải có trình độ chuyên môn phù hợp từ trung cấp trở lên [8]. Thứ hai, công chức cấp xã làm việc trong UBND cấp xã là cấp cơ sở trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc, gắn liền với cộng đồng làng xã và các tổ chức tự quản của dân cƣ.
Về chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là quản lý hành chính nhà nƣớc gắn với việc giải quyết các công việc có tính tự quản ở cơ sở. Chính những dấu hiệu này đã xác định đặc điểm về hoạt động của công chức cấp xã khác với CBCC cấp trên. Công chức cấp xã gần dân nhất, trực tiếp tham gia tổ chức các hoạt động quản lý, điều hành các công việc hành chính và trực tiếp tổ chức thi hành pháp luật ở cơ sở. Thứ ba, công chức cấp xã hoạt động liên tục, ổn định, thƣờng xuyên, giải quyết các công việc hàng ngày ở cấp xã.
Tuy nhiên so với công chức hành chính nhà nƣớc nói chung công chức cấp xã là lực lƣợng mang tính thiếu ổn định hơn do thƣờng có sự luân chuyển, điều động, sắp xếp lại công việc nhất là sau mỗi kỳ bầu cử. Công chức cấp xã tuy là công chức thừa hành nhƣng cũng chính là nguồn của cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở nên sau các kỳ bầu cử thƣờng có nhiều biến động, thay đổi. Thứ tư, công chức cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều việc. Mặc dù đƣợc đào tạo ở một chuyên ngành nhất định nhƣng khi thực thi công vụ ở cơ sở công chức xã lại phải thực hiện việc quản lý, tham mƣu và thực thi công vụ trên quy mô, phạm vi rộng với nhiều lĩnh vực, chuyên ngành khác nhau.
Ví dụ nhƣ chức danh công chức địa chính – xây dựng vừa phải thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai, quản lý quy hoạch, quản lý nhà và hạ tầng kỹ thuật, quản lý đô thị (ở phƣờng, thị trấn) và quản lý nông nghiệp (ở xã), quản lý bảo vệ môi trƣờng, hoà giải tranh chấp, tiếp nhận đơn thƣ khiếu nại, tố cáo về đất đai, tuyên truyền PBGDPL về đất đai. 12 Luan van Thứ năm, phần lớn công chức cấp xã là ngƣời địa phƣơng, sinh sống tại địa phƣơng nên có ƣu điểm là có sự am hiểu về văn hoá, phong tục tập quán của địa phƣơng, nắm bắt rõ tâm tƣ, tình cảm của nhân dân, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và các quy định của địa phƣơng. Tuy nhiên, cũng chính vì là ngƣời địa phƣơng nên công chức cấp xã lại bị chi phối bởi nhiều mối quan hệ tình cảm "phi nội tắc ngoại", "trong họ ngoài làng", cùng với tƣ duy nông nghiệp tạo nên lối làm việc "duy tình", chủ quan cá nhân, ảnh hƣởng đến năng lực thực thi công vụ của công chức và hiệu quả hoạt động thực thi công vụ ở cơ sở. Đặc điểm riêng Đặc điểm của công chức Tƣ pháp – Hộ tịch cấp xã đƣợc xác định bởi vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn trong tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã.
- Về vị trí: Xét theo hệ thống thứ bậc thì chính quyền cấp xã là cấp cuối cùng, cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp. Xét theo ngành Tƣ pháp thì tƣ pháp xã cũng là cấp cuối cùng trong hệ thống ngành tƣ pháp, chịu sự quản lý về chuyên môn nghiệp vụ của Phòng Tƣ pháp cấp huyện.