Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN PHÁP LUAT VE THOA THUAN ĐỘC QUYEN TRONG HOP DONG NHUONG QUYEN THUONG MAI 1. Khái quát về thỏa thuận độc quyền trong hop đồng nhượng quyền thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm hop đồng nhượng quyền thương mại 1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyên thương mai Ở Việt Nam, nhắc đến hình thức kinh doanh nhượng quyên thương mại (franchise) không phải là xa lạ.
Hình thức này được du nhập từ những năm 1990, nhiều thương hiệu nỗi tiếng toàn cầu chuyên về đồ ăn nhanh và đồ uống như MCDonald’s, Kentucky Fried Chicken (KFC), Qualitea, Dilmah. đã nhanh chóng thâm nhập thi trường Việt Nam trong những nam qua, trở thành phổ biến và quen thuộc với người tiêu dùng. Mặc dù, hiện nay ở nước ta có rất nhiều hệ thống kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại (NQTM) đang hoạt động, tuy nhiên, nói về thuật ngữ NQTM thì vẫn được xem là mới mẻ trong khoa học pháp lý Việt Nam. Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về NQTM.
Theo Hiệp hội NQTM Quốc tế (IFA) - Hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thé giới đã định nghĩa NQTM: “Nhượng quyên thương mai là mối quan hệ theo hợp đồng giữa bên nhượng quyền với bên nhận quyền, theo đó bên nhượng quyền đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận quyền trên các khía cạnh như: Bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên. Bên nhận quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát; và bên nhận quyền đang hoặc sẽ tiễn hành đầu tư đáng ké vốn vào doanh nghiệp bằng nguồn lực của mình”. Theo đó, vai trò của bên nhận quyền kinh doanh trong việc đầu tư vốn và điều hành doanh nghiệp được đặc biệt nhân mạnh so với trách nhiệm của bên giao quyền. Trong khi đó, Cộng đồng chung Châu Âu EC (nay là Liên minh Châu Âu EU) lại định nghĩa nhượng quyền kinh doanh theo hướng nhấn mạnh tới quyền của bên nhận, khi sử dụng một tập hợp quyền SHTT.
Mặc dù ghi nhận vai trò của thương hiệu và hệ thống, bí quyết kinh doanh của bên giao quyền, định nghĩa này không đề cập tới những đặc điểm khác của việc nhượng quyền kinh doanh. Cụ thể, EC định nghĩa nhượng quyên kinh doanh là một “tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) và SHTT liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu đáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác dé ban sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng”. Nhượng quyền kinh doanh có nghĩa là việc chuyên nhượng quyền kinh doanh được định nghĩa ở trên”. Chương 54 Bộ luật Dân sự của Liên bang Nga định nghĩa bản chất pháp lý của NQTM như sau: “Theo hợp đồng NQTM, một bên (bên có quyên) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyên của bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ.
Định nghĩa này tương tự như định nghĩa của EU đều nhắn mạnh tới việc Bên giao quyền giao một số quyền SHTT độc quyền cho bên nhận dé đổi lay những khoản chi phí nhất định, mà không đề cập đến vai trò, nghĩa vụ của bên nhận”. Ở Việt Nam, Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra khái niệm về NQTM như sau: “Nhượng quyên thương mai là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyên tự mình tiễn hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dich vụ theo các điều kiện sau đây: (i) Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiễn hành theo cách thức t6 chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng ' Nguyễn Thị Như Nguyễn (2011), Pháp luật điều chỉnh hop dong nhượng quyển thương mại — Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ luật hoc, Dai học Luật Hà Nội, tr. ? Bộ Công thương, Cục Quản ly Cạnh tranh, Bao cáo Ra soát các quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam, ngày 8/10/2012. hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; (ii) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyên trong việc điều hành công việc kinh doanh” Ỷ.
Với khái niệm này, pháp luật thương mại Việt Nam khang định hoạt động NQTM là một hoạt động thương mại, vi vậy, hoạt động này phải do thương nhân thực hiện và có mục đích kinh doanh. Ngoài ra, khái niệm này cũng chỉ rõ tính chất ràng buộc qua lại giữa các bên có liên quan, nhất là khang định sự giám sát của bên nhượng quyên đối với bên nhận quyền thương mại. Như vậy, mặc dù quan điểm của các nhà làm luật tại mỗi nước đưa ra định nghĩa khác nhau về NQTM, tuy nhiên, dựa trên bản chất được rút ra trong các định nghĩa, có thể đưa định nghĩa chung nhất về NQTM như sau: “NQTM là một quan hệ pháp luật được thiết lập trên cơ sở hợp đồng giữa các bên, trong đó, bên NQTM cho phép bên nhận quyền thương mại sử dụng một nhóm các quyền thương mại của mình mà chủ yếu là các quyền liên quan đến đối tượng của quyền SHTT để tiễn hành kinh doanh với tư cách pháp lý độc lập. Đôi lại, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền cho bên NQTM, phí này có thé bao gồm phí nhượng quyền ban đầu và phí nhượng quyền định kỳ trả dựa trên doanh thu hàng tháng, hàng năm của bên nhận quyền thương mại.
Ngoài ra, bên NQTM có thé ràng buộc bên nhận quyền thương mại bởi các thỏa thuận nhằm duy trì tính hệ thống hoặc dé kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền thương mại trên cơ sở có hỗ trợ về mặt kỹ thuật và đào tạo nhân lực cũng như các cơ sở vật chất cần thiết cho bên nhận quyền thương mại”. Nhận quyền thương mại, có nghĩa là bên nhận quyền mua quyền sử dụng của một thương hiệu hoặc một mô hình kinh doanh cụ thể. Doanh nghiệp nhận quyền điều hành về cơ bản cũng giống như mọi doanh nghiệp khác được vận hành dưới cùng một quyền thương mại. Đề làm được điều này, > Điều 284, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 14/6/2005.
10 bên nhận quyền thường phải mua nhiều thứ từ bên nhượng quyền thương mai như các sản phẩm, công cụ trợ giup về quảng cáo, dịch vụ đào tạo. Từ sự phân tích khái niệm nhượng quyền thương mại nêu trên, xuất phát từ góc độ kinh tế và góc độ pháp lý của hoạt động NQTM, có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng NQTM như sau: “ Hợp đồng NQTM là thỏa thuận giữa bên nhận quyên và bên nhượng quyền về các nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ này. Bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sử dụng “quyền thương mại” thuộc sở hữu của mình theo cùng một kế hoạch hệ thống tiếp thị của bên nhượng quyền và được nhận lại khoản phí hoặc % doanh thu của bên nhận quyền tùy theo thỏa thuận. Trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, bên nhượng quyền có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn và đào tạo cũng như có quyền kiểm soát đối với việc sử dụng “quyền thương mại” đã được chuyền giao.
Và hợp đồng NQTM sẽ là căn cứ dé phát sinh quyên và nghĩa vụ giữa các bên, cũng như là căn cứ giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện thỏa thuận giữa các bên”. Ở Việt Nam, pháp luật không đưa ra định nghĩa về hợp đồng NQTM mà chỉ quy định về hình thức của loại hợp đồng này tại Điều 285 Luật Thương mại 2005. Như vậy, có thé hiểu, trên phương diện pháp luật, hợp đồng NQTM là một loại hợp đồng được các thương nhân ký kết trong qua trình thực hiện hoạt động thương mại, mà cụ thể ở đây là hoạt động nhượng quyền thương mại. Vì vậy, hợp đồng này cũng phải có những đặc điểm chung của hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự và dap ứng day đủ các điều kiện mà pháp luật dân sự đặt ra dưới góc độ của một loại giao dịch dân sự.
Thêm vào đó, về cơ bản, nó phải thê hiện được bản chất của giao dịch NQTM đã được định nghĩa tại Điều 284 Luật Thương mại. Không đưa ra định nghĩa cụ thê về hợp đồng NQTM nói chung nhưng Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ lại nêu định nghĩa về các dạng đặc biệt của hợp đồng NQTM như “hợp đồng phát triển II quyền thương mại” * hoặc “hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp”. Đây là các dạng biến thể của hợp đồng NQTM, thể hiện sự đa dạng về hình thức và phương thức nhượng quyền nên việc đưa ra định nghĩa cụ thể về những loại hợp đồng này trong luật là hợp lý. Tuy nhiên, khi giải thích về nghĩa của cả hai loại hợp đồng nói trên, các nhà làm luật vẫn sử dụng thuật ngữ “hợp đồng nhượng quyên thương mại” để làm cầu nối.
Như vậy, việc pháp luật thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng NQTM mà lại dùng chính thuật ngữ này dé giải thích cho các thuật ngữ khác có liên quan là chưa đảm bảo tính hệ thống và tính chính xác cần phải có đối với các quy định pháp luật hiện nay. Mặc dù không có một khái niệm cụ thể nào cho hợp đồng NQTM, tuy nhiên hợp đồng NQTM luôn được xác định với những đặc trưng cơ bản trong các vẫn đề cụ thê sau: Một là, hợp đồng NQTM thường có tính “mẫu” nhằm đảm bảo được tính ôn định của một hệ thống nhượng quyên va bảo vệ quyên lợi của bên nhượng quyền”. Tính “mẫu” của hợp đồng NQTM được hiểu là sự giống nhau về nội dung của hợp đồng NQTM mà bên nhượng quyền đã đưa ra để các bên nhận quyền xem xét, cân nhắc từ đó tiến đến giao kết hợp đồng. Thực tế là, bên nhượng qyén khi quyết định giao kết hợp đồng với bên nhận quyền mới phải đối mặt trước tất cả các bên nhận quyền còn lại khi có một bên nhận quyền không trung thành với hệ thong nhượng quyền làm ảnh hưởng tới lợi ich của cả hệ thống.