ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phế quản phổi (UTPQP) là loại ung thư phổ biến đứng thứ hai sau ung thư tiền liệt tuyến ở nam và ung thư vú ở nữ [78]. Mặc dù gần đây đã có rất nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị nhưng UTPQP có tỷ lệ sống còn thấp. Tại các nước đang phát triển tỷ lệ bệnh nhân sống 5 năm kể từ khi phát hiện UTPQP khoảng 15% [41]. Hiệp Hội Ung Thư Mỹ ước tính vào năm 2018 có khoảng 234.030 người mới mắc UTPQP và có 154.050 người chết do UTPQP [78].
Hút thuốc lá vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra UTPQP [124]. Tình trạng hút thuốc lá gia tăng ở phụ nữ và tình trạng trẻ hóa độ tuổi hút thuốc lá làm cho tỷ lệ UTPQP đang gia tăng rất nhanh chóng và dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng trong những thập kỷ tới [69], [124]. Bệnh ung thư thường gây ra hội chứng suy mòn. Suy mòn trong ung thư là một hội chứng với biểu hiện giảm khối lượng cơ xương (có hoặc không có giảm khối mỡ) không thể phục hồi hoàn toàn bằng hỗ trợ dinh dưỡng thông thường [1], [14].
Từ lâu hội chứng suy mòn đã được chứng minh gây ảnh hưởng bất lợi trên bệnh nhân ung thư. Nó dẫn đến suy giảm chức năng cơ quan, giảm khả năng chịu đựng hóa trị liệu và giảm tỉ lệ sống còn [1], [26]. Cơ chế bệnh sinh đặc trưng nhất gây ra suy mòn ở bệnh nhân ung thư là mất cân bằng protein và cân bằng năng lượng âm do sự kết hợp của giảm lượng thức ăn nhập, bất thường chuyển hóa, gia tăng tình trạng viêm hệ thống, sự mất khối cơ [1], [136]. Nguyên nhân gây ra sự giảm lượng thức ăn nhập trên bệnh nhân UTPQP là do chán ăn, buồn nôn, nôn, khó nuốt, đau đớn, đây là những biến chứng do chính bản thân khối u gây ra hoặc do tác dụng phụ của hóa trị liệu [136].
Song song với tình trạng giảm lượng thức ăn nhập, bệnh nhân UTPQP lại có nhu cầu dinh dưỡng cao hơn bình thường do nhu cầu trao đổi chất tăng lên [92]. Tiêu chuẩn chẩn đoán chính của hội chứng suy mòn là sụt cân [48]. Sụt cân là một yếu tố tiên lượng xấu trong ung thư, sụt cân càng nhiều thì thời gian sống còn càng ngắn. Các nghiên cứu đã ghi nhận có đến 20% bệnh nhân ung thư chết do suy mòn [1].
Trong suy mòn do ung thư, sự mất khối mỡ và khối nạc rất lớn. Bệnh nhân UTPQP bị hội chứng suy mòn có thể mất đến 32% cân nặng so với lúc chưa bị bệnh. Đồng thời, bệnh nhân cũng bị mất khoảng 85% khối mỡ và 75% khối nạc, sụt giảm đáng kể thành phần chất khoáng, giảm khối lượng xương. Sự giảm nhanh khối lượng cơ xương giải thích tại sao bệnh nhân giảm khả năng đi lại, và do vậy giảm chất lượng cuộc sống cùng với rút ngắn thời gian sống còn, sự giảm khối cơ hô hấp dẫn đến chết do suy hô hấp.
Tử vong ở bệnh nhân ung thư xảy ra khi mất 25-30% cân nặng cơ thể [136]. Tần suất suy mòn ở bệnh nhân ung thư khá cao. Trong đó, tần suất suy mòn trên bệnh nhân UTPQP nhập viện là 83%, ngoại trú là 36% [140]. Việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng và can thiệp dinh dưỡng có vai trò quan trọng góp phần tăng hiệu quả điều trị, thời gian sống và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư [91].
Tuy vậy, hiện nay nghiên cứu về hội chứng suy mòn ở bệnh nhân UTPQP ở nước ta vẫn còn chưa đầy đủ. Mặc dù, trong những năm gần đây có một số nghiên cứu về hội chứng suy mòn ở bệnh nhân ung thư nói chung [4], đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân nhập viện nói chung [3], đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân chu phẫu gan mật tụy [2]. Trong khi tình trạng suy mòn ở bệnh nhân UTPQP nhập viện vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Chúng tôi thấy rằng một nghiên cứu về tình trạng suy mòn trên bệnh nhân UTPQP là cần thiết, nhằm cho thấy được thực trạng vấn đề suy mòn ở bệnh nhân UTPQP đang xảy ra với tỷ lệ bao nhiêu và có đặc điểm như thế nào, từ đó giúp các bác sỹ điều trị lưu tâm hơn về vấn đề dinh dưỡng và đưa.
ra những biện pháp hỗ trợ dinh dưỡng kịp thời cho người bệnh. Câu hỏi nghiên cứu: Tỉ lệ của hội chứng suy mòn xảy ra ở bệnh nhân UTPQP là bao nhiêu? Hội chứng suy mòn ở bệnh nhân UTPQP có những đặc điểm như thế nào? Có mối liên quan giữa hội chứng suy mòn và các đặc điểm của bệnh nhân UTPQP như: tiền sử hút thuốc lá, các bệnh đồng mắc, đặc điểm giải phẫu bệnh, giai đoạn ung thư hay không?. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU A. Mục tiêu tổng quát: Khảo sát hội chứng suy mòn ở bệnh nhân ung thư phế quản phổi.
Mục tiêu cụ thể: 1. Xác định tỉ lệ hội chứng suy mòn ở bệnh nhân ung thư phế quản phổi. Xác định các đặc điểm của hội chứng suy mòn ở bệnh nhân ung thư phế quản phổi. Xác định mối liên quan giữa hội chứng suy mòn và các đặc điểm của bệnh nhân ung thư phế quản phổi như: tiền sử hút thuốc lá, các bệnh đồng mắc, giải phẫu bệnh, giai đoạn ung thư.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về ung thư phế quản phổi: 1.Lịch sử: Ung thư phổi còn được gọi là ung thư phế quản - phổi nguyên phát bởi vì ung thư phổi thường phát triển từ tổ chức biểu mô phế quản, rất hiếm khi từ biểu mô phế nang. Khoảng 150 năm trước đây, ung thư phổi là một căn bệnh cực kỳ hiếm gặp. Vào năm 1878, khối u phổi ác tính chỉ chiếm 1% trong số tất cả các bệnh ung thư được khám nghiệm tử thi tại Viện Bệnh Lý của Đại Học Dresden ở Đức. Do sự gia tăng của vấn nạn hút thuốc lá, đến năm 1918 tỉ lệ này đã tăng lên gần 10%, và đến năm 1927 tỉ lệ này tăng cao hơn 14% [149].
Kể từ năm 1985, ung thư phổi trở thành loại ung thư phổ biến nhất trên toàn thế giới cả về tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong [37]. Dịch tể học: Trên thế giới: Ung thư phế quản phổi ( UTPQP) hiện đang là loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới và là nguyên nhân thứ hai gây tử vong do ung thư ở phụ nữ chỉ sau ung thứ vú [24]. Năm 2012, thế giới có khoảng 1,6 triệu người chết vì UTPQP, phần lớn ở các nước kém phát triển (63% ở nam, 57% ở nữ) [41]. Ước tính đến năm 2035, số người tử vong do UTPQP trên toàn thế giới sẽ tăng từ 1,6 triệu lên 3 triệu người [41].
Theo thống kê mới nhất của Hiệp hội ung thư Mỹ, năm 2018, nước Mỹ có khoảng 234.030 trường hợp mới mắc UTPQP, trong đó có 121.350 nữ, số người chết vì UTPQP là 154. Dự kiến trong những năm tới, con số này vẫn sẽ tiếp tục tăng nhanh ở nước Mỹ cũng như trên toàn cầu, nhất là ở các nước đang phát triển,. do tình trạng gia tăng hút thuốc lá ở phụ nữ và ô nhiễm môi trường nghề nghiệp [19]. Tại Việt Nam: Năm 2018, theo thống kê của Tổ chức Ung Thư Toàn Cầu (GLOBOCAN), UTPQP cùng với ung thư gan và ung thư dạ dày đang là ba loại ung thư dẫn đầu tại Việt Nam cả về tỉ lệ mới mắc, tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ tử vong.
Trong đó, UTPQP xếp hàng thứ hai chỉ sau ung thư gan với số bệnh nhân mới mắc tính chung cho cả hai giới là 23.667 ca (14,4%), và tử vong do UTPQP tính chung cho cả hai giới là 20. Nếu tính riêng theo giới tính thì UTPQP đứng hàng thứ hai ở nam giới với 16.722 ca mới mắc (18,4%), đứng hàng thứ ba ở nữ giới với 6.945 ca mới mắc [8]. Yếu tố nguy cơ [80]: - Hút thuốc lá vẫn là yếu tố nguy cơ chính gây UTPQP. - Yếu tố di truyền: Tiền sử gia đình có người mắc UTPQP làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh ngay cả sau khi đã điều chỉnh việc hút thuốc lá, điều này cho thấy vai trò của gen di truyền trong sự phát sinh bệnh.
- Một số tác nhân khác [86]: + Chế độ ăn nhiều thịt đỏ. + Phơi nhiễm nghề nghiệp: amiăng, nhựa đường, kim loại nặng, silic, khí thải diesel… + Ô nhiễm môi trường: bụi mịn, ô nhiễm không khí trong nhà… + Tiếp xúc với bức xạ như: xạ trị đến vú hoặc ngực, bức xạ chụp cắt lớp vi tính, radon, bức xạ bom nguyên tử… 1. UTPQP gồm hai loại UTPQP nguyên phát và UTPQP thứ phát. UTPQP nguyên phát có vị trí xuất phát ban đầu của khối u là tại phế quản phổi.
UTPQP thứ phát là ung thư ban đầu xuất phát từ những vị trí khác sau đó di căn đến phổi [39]. Đa số UTPQP xuất phát từ lớp biểu mô phế quản nên được còn gọi là carcinoma phế quản. Do khả năng biệt hóa phức tạp của lớp tế bào biểu mô phế quản nên carcinoma phế quản thường là hỗn hợp của bốn loại tế bào bao gồm tế bào tuyến, tế bào vảy, tế bào nhỏ, tế bào lớn. Thông thường có một loại tế bào nổi bật, nhưng các loại tế bào khác có thể tìm thấy rải rác ở các phần khác của cùng một khối u hay trong một tổn thương di căn [39].
Do các khác biệt về tác động sinh học và diễn tiến lâm sàng nên về mặt chẩn đoán UTPQP nguyên phát được chia thành hai nhóm là ung thư phổi không phải tế bào nhỏ và ung thư phổi tế bào nhỏ. Nhóm ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (Non small cell lung carcinoma) chiếm tỉ lệ khoảng 85%, diễn tiến di căn xa không rõ, khó phát hiện. Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được chia thành các nhóm nhỏ hơn là ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư biểu mô tế bào lớn. Gần 40% số ca UTPQP là ung thư biểu mô tuyến, loại này thường bắt nguồn từ mô phổi ngoại vi [152].
Nhóm ung thư phổi tế bào nhỏ ( Small cell lung cancer) chiếm khoảng 15%, thường có triệu chứng lâm sàng rất rõ ràng, diễn tiến nhanh nên dễ phát hiện được hơn loại không tế bào nhỏ và nhanh di căn xa tới gan và tủy xương [120]. UTPQP thứ phát (di căn phổi) được phân loại dựa theo vị trí khối u phát sinh ban đầu như ung thư đại tràng di căn phổi, ung thư vú di căn phổi. Chẩn đoán ung thư phế quản phổi : Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán UTPQP là mô bệnh học.