Tổng quan nghiên cứu

Hội chứng chồng lấp Hen phế quản và Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (ACOS) chiếm khoảng 15% đến 25% tổng số các trường hợp bệnh nhân mắc bệnh lý đường hô hấp tắc nghẽn trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, nhiều báo cáo lâm sàng ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân ACOS chiếm khoảng 17,2% trong tổng số người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được quản lý. Người bệnh mang hội chứng này thường chịu gánh nặng bệnh tật nặng nề hơn hẳn so với các thể bệnh đơn thuần, thể hiện qua tần suất đợt cấp tái phát cao gấp 2 đến 3 lần, chi phí điều trị nội trú tăng từ 1,5 đến 2 lần và tỷ lệ tử vong ghi nhận ở mức 1,83% (tương đương 7,17 biến cố trên 100 người-năm).

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế lâm sàng: ACOS mang đặc tính lâm sàng đan xen phức tạp giữa sự biến đổi co thắt phế quản của hen và tình trạng tắc nghẽn luồng khí không hồi phục hoàn toàn của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT). Điều này dẫn đến nguy cơ chẩn đoán nhầm hoặc điều trị chưa trúng đích trong các đợt bùng phát cấp tính. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Nội khoa của học viên Cao Văn Minh tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên tập trung vào hai mục tiêu cốt lõi: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ACOS và đánh giá kết quả điều trị đợt bùng phát cùng các yếu tố liên quan.

Công trình được thực hiện trên 72 bệnh nhân nội trú trong thời gian từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018 tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên cùng Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nằm ở việc cung cấp bức tranh toàn diện về kiểu hình ACOS tại địa phương, hỗ trợ các bác sĩ tối ưu hóa phác đồ can thiệp, giúp nâng cao tỷ lệ điều trị thành công lên trên 91,7% và rút ngắn số ngày nằm viện trung bình về mức 8 đến 14 ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên các hướng dẫn đồng thuận toàn cầu của Chiến lược Quản lý Hen (GINA 2014) phối hợp cùng Sáng kiến Toàn cầu về Bệnh Phổi Tắc nghẽn Mạn tính (GOLD 2016). Đồng thời, đề tài tích hợp bộ tiêu chuẩn chẩn đoán xác định ACOS của Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ (ATS 2015) và Hiệp hội Phổi học Tây Ban Nha (SEPAR 2012). Về mặt sinh học phân tử và tế bào, ACOS là sự tương tác phức hợp giữa hai phản ứng viêm: Phản ứng viêm tăng bạch cầu ái toan do tế bào trợ giúp TCD4 điều hòa (đặc trưng của hen) và phản ứng viêm tăng bạch cầu đa nhân trung tính kết hợp tế bào TCD8 phá hủy cấu trúc nhu mô (đặc trưng của BPTNMT).

Bốn khái niệm then chốt được áp dụng trong luận văn bao gồm:

  • Hội chứng chồng lấp hen - BPTNMT (ACOS): Tình trạng giới hạn luồng khí thở dai dẳng kèm theo các dấu hiệu lâm sàng vừa mang tính chất biến đổi của hen, vừa mang tính chất tiến triển mạn tính của BPTNMT.
  • Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) và Tỷ lệ Gaensler/Tiffeneau (FEV1/FVC): Chỉ số định lượng mức độ tắc nghẽn đường thở, trong đó FEV1/FVC dưới 70% sau test giãn phế quản là bằng chứng xác nhận tắc nghẽn cố định.
  • Nghiệm pháp phục hồi phế quản (Bronchodilator Reversibility Test): Đánh giá sự gia tăng của FEV1 sau khi xịt 400 mcg Salbutamol; mức tăng trên 12% và trên 200 ml là tiêu chuẩn quan trọng để xác định tính hồi phục của đường dẫn khí.
  • Thang điểm khó thở mMRC (modified Medical Research Council): Thang đo 5 mức độ (từ 0 đến 4 điểm) lượng hóa mức độ hạn chế hoạt động thể lực do khó thở gây ra.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có so sánh trước và sau điều trị đợt bùng phát. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức thống kê dịch tễ học cho nghiên cứu mô tả với mức ý nghĩa alpha bằng 0,1 (độ tin cậy 90%, hệ số Z bằng 1,645), tỷ lệ hiện mắc ACOS ước tính là 17,2% và sai số tuyệt đối mong muốn 10%, cho ra cỡ mẫu tối thiểu là 39 bệnh nhân. Để tăng cường độ chính xác và tính đại diện, tác giả đã thu thập toàn bộ 72 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu tại hai bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh và trung ương trên địa bàn Thái Nguyên.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bệnh án nghiên cứu thống nhất, khám lâm sàng tỉ mỉ kết hợp hệ thống cận lâm sàng đồng bộ: Đo chức năng thông khí bằng máy phế dung kế Spiroanalyzer ST-300 (Nhật Bản), đo độ bão hòa oxy mao mạch bằng máy Beurer PO30 (Đức), chụp X-quang phổi chuẩn thẳng, xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu bằng hệ thống tự động và ghi điện tâm đồ 12 chuyển đạo. Toàn bộ số liệu được nhập, làm sạch và phân tích bằng phần mềm thống kê y học SPSS phiên bản 20.0. Các phương pháp phân tích mô tả, kiểm định Chi-bình phương và hồi quy phi tham số được lựa chọn nhằm làm rõ mối liên hệ giữa các biến số lâm sàng, chỉ số cận lâm sàng với kết quả điều trị đợt cấp của người bệnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về đặc điểm dịch tễ và nhân khẩu học, trong tổng số 72 bệnh nhân ACOS tham gia nghiên cứu, nam giới chiếm tỷ lệ vượt trội với 88,9% (64 bệnh nhân), trong khi nữ giới chỉ chiếm 11,1% (8 bệnh nhân). Độ tuổi mắc bệnh tập trung nhiều nhất ở nhóm từ 60 đến 79 tuổi (chiếm 65,3%), với tuổi trung bình là 64,8 tuổi. Tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào trên 20 bao-năm chiếm tới 69,4%, và 100% bệnh nhân từng có tiền sử các triệu chứng gợi ý hen hoặc cơ địa dị ứng xuất hiện trước 40 tuổi kết hợp với tiếp xúc khói bụi độc hại lâu năm.

Thứ hai, về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng lúc nhập viện, 100% bệnh nhân xuất hiện triệu chứng khó thở và khò khè tăng nặng về đêm hoặc gần sáng. Triệu chứng ho khạc đờm mạn tính ghi nhận ở 94,4% đối tượng. Mức độ khó thở nặng theo thang điểm mMRC từ độ 2 đến độ 4 chiếm tới 84,7%. Trên phim X-quang ngực, hình ảnh phổi bẩn chiếm 75,0% và hình ảnh khí phế thũng chiếm 58,3%. Kết quả đo chức năng hô hấp ghi nhận 100% bệnh nhân có chỉ số FEV1/FVC dưới 70%, trong đó mức độ tắc nghẽn nặng và rất nặng (FEV1 dưới 50% giá trị dự đoán) chiếm 61,1%. Độ bão hòa oxy máu SpO2 lúc vào viện giảm sâu dưới 95% ở 83,3% bệnh nhân, số lượng bạch cầu tăng trên 10 G/l chiếm 59,7% do tình trạng bội nhiễm phế quản.

Thứ ba, về kết quả can thiệp điều trị đợt bùng phát, sau khi áp dụng phác đồ chuẩn kết hợp kháng sinh, thuốc giãn phế quản đường hít và truyền tĩnh mạch, corticoid toàn thân cùng liệu pháp oxy, tỷ lệ bệnh nhân đạt kết quả điều trị tốt ra viện là 91,7% (66 bệnh nhân), chỉ có 8,3% (6 bệnh nhân) có diễn biến nặng phải chuyển tuyến hoặc kéo dài thời gian nằm viện. Điểm khó thở mMRC cải thiện rõ rệt: Tỷ lệ bệnh nhân ở mức độ khó thở nhẹ (độ 0 và độ 1) tăng từ 15,3% lúc vào viện lên 72,2% khi xuất viện. Tỷ lệ bệnh nhân đạt SpO2 từ 95% trở lên tăng vọt từ 16,7% lên 88,9%. Thời gian nằm viện trung bình là 10,2 ngày, trong đó nhóm điều trị từ 8 đến 14 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất với 72,2%.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ đáp ứng điều trị thành công cao (91,7%) chứng minh tính đúng đắn của việc kết hợp đồng thời nhóm thuốc chống viêm corticoid toàn thân (Methylprednisolone) và thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn (Salbutamol, Diaphylin). Khác với bệnh nhân BPTNMT đơn thuần vốn kém đáp ứng với corticoid, bệnh nhân ACOS có thành phần viêm tăng bạch cầu ái toan trong đường thở nên biểu hiện mức độ hồi phục triệu chứng khó thở và cải thiện thông khí nhanh chóng hơn sau khi được sử dụng corticoid kiểm soát phản ứng viêm cấp.

Sự phân bố giới tính với 88,9% nam giới trong nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với số liệu của tác giả Trương Thị Tuyết tại Bệnh viện Bạch Mai (85,7% nam giới) và phản ánh tập quán hút thuốc lá, thuốc lào phổ biến của nam giới tại khu vực trung du miền núi phía Bắc. Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế như công trình của Sorino tại Anh hay De Marco tại Ý, bệnh nhân ACOS trong nghiên cứu này có mức độ hạn chế luồng khí FEV1 thấp hơn khi nhập viện nhưng lại đạt tốc độ phục hồi SpO2 khả quan.

Các dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột thể hiện sự dịch chuyển các mức độ khó thở mMRC trước và sau can thiệp, kết hợp bảng so sánh tương quan giữa các yếu tố nguy cơ với thời gian nằm viện. Phân tích thống kê cho thấy những bệnh nhân trên 70 tuổi, người có chỉ số khối cơ thể BMI dưới 18,5 (suy dinh dưỡng), người có tiền sử hút thuốc trên 20 bao-năm và người có trên 2 đợt bùng phát trong năm trước đó có thời gian nằm viện kéo dài trên 14 ngày cao gấp 2,5 lần so với nhóm còn lại (p < 0,05).

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thực hiện chuẩn hóa quy trình đo chức năng thông khí phổi kết hợp test hồi phục phế quản cho 100% bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hoặc hen khó kiểm soát tại các cơ sở y tế tuyến huyện và tuyến tỉnh; mục tiêu là phát hiện sớm ít nhất 80% ca bệnh ACOS tiềm ẩn ngay trong 3 tháng đầu tiếp cận điều trị ngoại trú do các bác sĩ chuyên khoa Nội Hô hấp trực tiếp chủ trì.

  2. Áp dụng đồng bộ phác đồ điều trị duy trì bộ ba thuốc (ICS/LABA/LAMA) cho bệnh nhân ACOS ngay sau khi xuất viện; mục tiêu giảm tối thiểu 30% tần suất đợt bùng phát phải nhập viện trong vòng 12 tháng theo dõi; trách nhiệm thực hiện thuộc về các khoa Khám bệnh và phòng quản lý bệnh phổi mạn tính tại các bệnh viện đa khoa.

  3. Xây dựng chương trình can thiệp hỗ trợ cai nghiện thuốc lá, thuốc lào và tư vấn dinh dưỡng nâng cao chỉ số BMI cho bệnh nhân; mục tiêu đạt tỷ lệ cai thuốc thành công trên 50% sau 6 tháng tư vấn và duy trì chỉ số BMI trong khoảng 18,5 đến 22,9 kg/m2; chủ thể triển khai là mạng lưới điều dưỡng và nhân viên y tế công cộng tuyến cơ sở.

  4. Thiết lập kế hoạch tiêm phòng vắc xin cúm hàng năm và vắc xin phòng phế cầu định kỳ 5 năm một lần cho 100% người bệnh ACOS ngoại trú; mục tiêu giảm 25% các đợt bội nhiễm đường hô hấp dưới; giao trách nhiệm cho Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC) và các trạm y tế xã, phường phối hợp thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ chuyên khoa Nội Hô hấp và Cấp cứu: Tài liệu cung cấp căn cứ thực chứng về tiêu chuẩn chẩn đoán ATS 2015 và hướng dẫn chi tiết cách phối hợp thuốc giãn phế quản, kháng sinh và corticoid trong xử trí cấp cứu đợt bùng phát ACOS tại bệnh viện.

  2. Học viên sau đại học, Bác sĩ nội trú và Nghiên cứu sinh Y học: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp trước sau, cách xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 và phương pháp luận tổng quan tài liệu y học chuyên ngành.

  3. Nhà quản lý y tế và Lãnh đạo các cơ sở khám chữa bệnh: Nguồn dữ liệu thực tế về thời gian nằm viện trung bình (10,2 ngày) và mô hình bệnh tật giúp định hướng đầu tư trang thiết bị đo phế dung kế, dự trù cơ số thuốc hô hấp thiết yếu và phân bổ nhân lực y tế hợp lý.

  4. Cán bộ y tế tuyến cơ sở và Bác sĩ gia đình: Hướng dẫn thực hành hữu ích để phân loại sớm bệnh nhân hen, BPTNMT và ACOS, nhận biết các dấu hiệu suy hô hấp (tụt SpO2, tăng mMRC) nhằm chuyển tuyến kịp thời và theo dõi điều trị duy trì tại cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Hội chứng chồng lấp hen - BPTNMT (ACOS) khác gì so với hen hoặc BPTNMT đơn thuần?

ACOS là tình trạng bệnh lý mà một người bệnh biểu hiện đồng thời các đặc điểm của cả hai bệnh: Tình trạng tắc nghẽn luồng khí thở dai dẳng không hồi phục hoàn toàn (chỉ số FEV1/FVC dưới 70%) kết hợp với tính chất tăng đáp ứng phế quản dao động mạnh và các cơn khó thở tăng về đêm. Người bệnh ACOS có số đợt bùng phát nhiều hơn và suy giảm chức năng phổi nhanh hơn so với từng bệnh đơn lẻ.

Tiêu chuẩn chẩn đoán ACOS theo ATS 2015 gồm những điều kiện nào?

Theo ATS 2015, bệnh nhân cần thỏa mãn đủ 3 tiêu chuẩn chính: Tuổi từ 40 trở lên có rối loạn thông khí tắc nghẽn cố định (FEV1/FVC dưới 70%), tiền sử hút thuốc ít nhất 10 năm hoặc tiếp xúc khói bụi tương đương, và có tiền sử hen trước 40 tuổi (hoặc FEV1 tăng trên 15% và 400 ml sau test giãn phế quản); kèm theo ít nhất một tiêu chuẩn phụ như cơ địa dị ứng hoặc khò khè tăng về đêm.

Vì sao bệnh nhân ACOS bắt buộc phải dùng Corticoid dạng hít (ICS) trong điều trị duy trì?

Khác với BPTNMT đơn thuần có thể chỉ dùng thuốc giãn phế quản đơn độc, bệnh nhân ACOS mang bản chất viêm đường thở tăng bạch cầu ái toan của hen. Việc dùng thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài đơn thuần (LABA) mà không có ICS sẽ làm gia tăng nguy cơ tử vong và bùng phát cơn hen cấp tính; do đó phối hợp ICS/LABA là chỉ định bắt buộc.

Những yếu tố nào làm kéo dài thời gian nằm viện của bệnh nhân ACOS trong đợt cấp?

Kết quả nghiên cứu trên 72 bệnh nhân chỉ ra rằng độ tuổi cao từ 70 tuổi trở lên, chỉ số thể trọng BMI dưới 18,5 (thể trạng gầy mòn), tiền sử hút thuốc nặng trên 20 bao-năm, mức độ tắc nghẽn FEV1 dưới 50% và có từ hai bệnh lý đồng mắc trở lên (như tăng huyết áp, đái tháo đường) là các yếu tố chính khiến thời gian điều trị kéo dài trên 14 ngày.

Tỷ lệ phục hồi của bệnh nhân ACOS sau đợt điều trị nội trú đạt mức nào?

Tại hai bệnh viện ở Thái Nguyên, sau trung bình 10,2 ngày điều trị theo phác đồ tích cực, 91,7% bệnh nhân đạt kết quả điều trị tốt, các triệu chứng ran rít, ran ẩm tại phổi giảm trên 80%, tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ oxy máu SpO2 trên 95% đạt 88,9% và điểm khó thở mMRC giảm rõ rệt về mức nhẹ.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định ACOS là thực thể bệnh lý hô hấp mạn tính chiếm tỷ lệ đáng kể (khoảng 17,2% trong nhóm bệnh phổi tắc nghẽn) với gánh nặng lâm sàng phức tạp và nguy cơ tái phát đợt cấp cao.
  • Đặc điểm nổi bật của người bệnh ACOS tại Thái Nguyên gồm: 88,9% là nam giới, 69,4% hút thuốc lá trên 20 bao-năm, 100% có khó thở về đêm và 61,1% có tắc nghẽn thông khí mức độ nặng đến rất nặng (FEV1 dưới 50%).
  • Phác đồ can thiệp toàn diện phối hợp kháng sinh, thuốc giãn phế quản, corticoid toàn thân và oxy liệu pháp mang lại tỷ lệ điều trị ổn định ra viện đạt 91,7% với thời gian nằm viện phổ biến từ 8 đến 14 ngày.
  • Các chỉ số tiên lượng như tuổi cao, suy dinh dưỡng (BMI dưới 18,5), số năm hút thuốc và bệnh tim mạch đồng mắc đòi hỏi bác sĩ phải cá thể hóa phác đồ điều trị và theo dõi sát sao.
  • Trong thời gian tới, các cơ sở y tế cần đẩy mạnh chương trình tầm soát bằng phế dung kế và quản lý điều trị duy trì ngoại trú bằng phác đồ ba thuốc; các y bác sĩ và nhà nghiên cứu hãy áp dụng ngay các kết quả này vào thực tiễn để nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện cho người bệnh.