Chương 1: Những lý luận chung về hoạt động tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Tây Hồ Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Tây Hồ 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về doanh nghiệp - Khái niệm về doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường”. Theo Nguyễn Công Khương (2017) thì: “Doanh nghiệp mặt khác là đối tượng quản lý của nhà nước. Nhà nước điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các văn bản quy định về cơ chế quản lý tài chính”.
Khi hoạt động, doanh nghiệp cần rất nhiều vốn để tài trợ cho các tàn sản dài hạn cũng như tài trợ cho vốn lưu động, trong khi hoạt động của daonh nghiệp chịu nhiều yếu tố rủi ro như lãi suất, tỷ giá, rủi ro thanh toán từ phía đối tác, rủi ro từ thiên tai dịch bệnh. Với những rủi ro khả năng cao có thể xảy ra, dẫn đến ảnh hưởng tới năng lực tài chính của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không có biện pháp nào huy động được vốn thì chi phí cơ hội trong hoạt động kinh doanh tăng cao, do vậy, vốn luôn là mối lo lắng của các doanh nghiệp. Muốn tồn tại và phát triển bền vững, doanh nghiệp luôn luôn phải dự trù một nguồn vốn dồi dào, ổn định để đối mặt với bất kỳ biến cố nào xảy ra.
- Phân loại doanh nghiệp Có rất nhiều các phương thức để phân loại doanh nghiệp: Có thể phân loại doanh nghiệp theo quy mô, theo loại hình doanh nghiệp, theo ngành nghề kinh doanh, tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, tác giả xin 9 phân tích khái niệm và phân loại doanh nghiệp đối với khía cạnh ngân hàng. Bởi với các ngân hàng thương mại hiện nay, việc phân chia doanh nghiệp dựa theo quy mô vốn, từ đó chia khách hàng doanh nghiệp về bộ phận bán lẻ hoặc bộ phận khách hàng doanh nghiệp lớn. Để phân tích được sát với luận văn, tác giả phân loại doanh nghiệp theo góc độ ngân hàng thương mại. Ngày nay, qua sự phát triển của thị trường ngân hàng, các ngân hàng đã và đang thực hiện cơ cấu tổ chức của mình thành hai mảng lớn đó là mảng bán lẻ và mảng bán buôn.
Trong khi các hoạt động bán lẻ hướng tới các khách hàng cá nhân và các doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa thì mảng bán buôn tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn và giá trị một khoản vay lớn, đây là khách hàng mục tiêu của bộ phận nguồn vốn. Trước đây, nguồn vốn vay của ngân hàng thương mại đa số phần lớn tập trung cho các khách hàng bán buôn tuy nhiên rủi ro tín dụng cũng rất cao, chính vì vậy mà ngày nay để sản sẻ rủi ro cũng như khai thác sâu thị trường bán lẻ, thì hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cũng khá phát triển, thậm chí tại một số ngân hàng thương mại, phân khúc bán lẻ trở thành phân khúc khách hàng chính của ngân hàng bởi đặc thù mảng bán lẻ có số lượng khách hàng rất lớn, lớn hơn rất nhiều lần so với khách hàng bán buôn. Như vậy, có thể hiểu khách hàng doanh nghiệp trong ngân hàng sẽ phân loại thành doanh nghiệp bán buôn ở đây là các khách hàng doanh nghiệp có quy mô lớn, còn các khách hàng doanh nghiệp bán lẻ là các doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ, vừa và nhỏ. Tại Việt Nam, chưa có một định nghĩa chính thức nào xác định doanh nghiệp lớn là gì tuy nhiên theo Nghị định số: 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã ban hành định nghĩa về DNNVV.
Theo Nghị định số: 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ 10 DNNVV là “Cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Phân loại cụ thể như sau: Bảng 1. Tiêu chí phân loại DNNVV của Việt Nam DN SIÊU NHỎ DN NHỎ DN VỪA Nếu Nếu sử LĨNH sử Nếu sử Nếu sử dụng Nếu sử Nếu sử VỰC dụng dụng dụng tiêu Lao độn dụng tiêu dụng tiêu Lao động tiêu Lao động tiêu chí tiêu chí chí g chí Doanh chí Nguồn chí Doanh Nguồn Nguồn thu vốn Doanh thu vốn vốn thu Nông nghiệp, Trên Từ 10 Từ 3 tỷ Từ 3 tỷ Trên Trên Trên Trên Trên lâm 100 đến lao động trở trở 10 đến 100 3 đến 50 3 đến 20 50 đến 200 20 đến 100 nghiệp, 200 trở xuống xuống xuống lao động tỷ tỷ tỷ tỷ thủy lao động sản Công Trên Từ 10 Từ 3 tỷ Từ 3 tỷ Trên Trên Trên Trên Trên nghiệp, 100 đến lao động trở trở 10 đến 100 3 đến 50 3 đến 20 50 đến 200 20 đến 100 xây 200 trở xuống xuống xuống lao động tỷ tỷ tỷ tỷ dựng lao động Trên Thươn Từ 10 Từ 10 Từ 3 tỷ Trên Trên Trên Trên Trên 50 đến 1 g mại, lao động tr tỷ trở trở 10 đến 50 3 đến 10 3 đến 50 100 đến 30 50 đến 100 00 dịch vụ ở xuống xuống xuống lao động 0 tỷ tỷ 0 tỷ tỷ lao động (Nguồn: Nghị định số: 39/2018/NĐ-CP) Như vậy có thể hiểu doanh nghiệp lớn (hay doanh nghiệp bán buôn theo cách gọi từ góc độ ngân hàng thương mại) là những doanh nghiệp sau: 11 Bảng 1. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp lớn của Việt Nam DN LỚN Nếu sử dụng Nếu sử dụng Lĩnh vực Lao động tiêu chí tiêu chí Nguồn Doanh thu vốn I.
Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trên 200 Trên 200 tỷ Trên 100 tỷ lao động II. Công nghiệp và xây dựng Trên 200 Trên 200 tỷ Trên 100 tỷ lao động III. Thương mại và dịch vụ Trên 100 Trên 300 tỷ Trên 100 tỷ lao động (Nguồn: Nghị định số: 39/2018/NĐ-CP) Thực tế, theo pháp luật của mỗi quốc gia thì khái niệm, phân loại về doanh nghiệp sẽ khác nhau, tuy nhiên, tựu chung thì thuật ngữ doanh nghiệp muốn đề cập đến một thực thể, một tổ chức kinh tế có quy mô vốn, lao động tập trung và cùng thực hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó vì mục tiêu chung của tập thể, của tổ chức đó. Xét theo khía cạnh nhìn nhận của ngân hàng thương mại, thì dựa theo quy mô tài chính, khả năng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng mà tiêu chí cũng như tên gọi của các khách hàng doanh nghiệp là khác nhau Trên góc độ ngân hàng, tùy theo năng lực tài chính và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng mà tiêu chí phân loại khách hàng doanh nghiệp bán buôn và tên gọi khác nhau, ví dụ: 12 Bảng 1.
Một số tiêu chí và tên gọi phân loại khách hàng doanh nghiệp tại một số NHTM Ngân hàng Tên gọi Tiêu chí xác định Tại Ngân hàng TMCP Khách hàng doanh Doanh thu 1.000 tỷ đồng Quân Đội nghiệp lớn Tổng Tài sản 500 tỷ đồng Tại Ngân hàng TMCP Doanh thu 500 tỷ đồng Khách hàng doanh Đầu tư và phát triển Việt nghiệp lớn Tổng Tài sản 300 tỷ đồng Nam Doanh thu 100 tỷ đồng Tại Ngân hàng TMCP Khách hàng doanh Vốn chủ sở hữu 30 tỷ đồng Ngoại thương nghiệp bán buôn Tiền gửi bình quân/năm 10 tỷ đồng (Nguồn: Tổng hợp của tác giả) Ở Việt Nam, có thể nói ưu thế của dịch vụ ngân hàng bán buôn thường nằm ở các ngân hàng có gốc nhà nước, còn gọi là “ưu thế tự nhiên”. Sở dĩ như vậy vì các ngân hàng gốc nhà nước có quy mô lớn, thường tập trung nhiều cá nhân và doanh nghiệp gửi tiền kỳ hạn và không kỳ hạn (phục vụ cho nhu cầu thanh toán). Những ngân hàng này có lợi thế về chi phí vốn bình quân thấp hơn các ngân hàng tư nhân, cùng khả năng tiếp cận những dự án lớn. Hiện nay tại các ngân hàng thương mại, khách hàng doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng thương mại vì số lượng khách hàng cũng như quy mô vay vốn lớn, chiếm tỷ trọng chính trong tín dụng của các ngân hàng thương mại.
Với các ngân hàng, đối tượng khách hàng doanh nghiệp là đối tượng khách hàng quan trọng, chiếm tỷ trọng phần lớn về vốn huy động, về vay vốn tín dụng cũng như các dịch vụ bán chéo như thanh toán, chuyển tiền, bảo lãnh, trả lương qua thẻ…Do vậy các ngân hàng không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút các khách hàng nói chung và khách hàng doanh nghiệp nói riêng. Hoạt động tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm - Tín dụng Theo Luật các tổ chức tín dụng thì: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014) thì “Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin- người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ.
Với ngân hàng, để có thể tin được vào khách hàng, ngân hàng luôn thẩm định khách hàng trước khi cấp tín dụng. Nếu khâu này thực hiện một cách khách quan, chính xác thì việc cho vay của ngân hàng gặp ít rủi ro và ngược lại.” - Tín dụng doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của mình, các doanh nghiệp luôn cần vốn để hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, do vậy nhu cầu về tín dụng của các doanh nghiệp là rất lớn.