phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của đề tài bao gồm 3 chƣơng, bao gồm: Chƣơng I. Cơ sở lí luận và thực tiễn về thƣơng mại và hoạt động nội thƣơng. Chƣơng II. Các nhân tố ảnh hƣởng và thực trạng hoạt động nội thƣơng tỉnh Thái Nguyên.
Chƣơng III. Định hƣớng và giải pháp phát triển hoạt động nội thƣơng tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƢƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG NỘI THƢƠNG 1. Một số khái niệm 1.
Thương mại Thƣơng mại là ngành có lịch sử lâu đời và hiện là một trong những hoạt động kinh tế quan trọng hàng đầu của khu vực dịch vụ. Cho đến này, có rất nhiều các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc về thƣơng mại. Trong các công trình nghiên cứu đó, các tác giả đã cố gắng đƣa ra những khái niệm về thƣơng mại từ những góc độ nghiên cứu khác nhau. Tựu chung lại trong các khái niệm đó đều hàm chứa ý nghĩa: thƣơng mại là hoạt động trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa bên mua và bên bán.
Thƣơng mại tiếng Anh là “Trade”, vừa có nghĩa là kinh doanh, vừa có nghĩa là trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra, tiếng Anh còn dùng một thuật ngữ nữa là “Business” hoặc “Commerce” với nghĩa buôn bán hàng hóa, kinh doanh hàng hóa hay mậu dịch. Tiếng Pháp cũng có từ “Commerce” với nghĩa là sự buôn bán, mậu dịch hàng hóa dịch vụ. Tiếng Latinh từ “thƣơng mại” là “Commercium” vừa có nghĩa là mua bán hàng hóa, vừa có nghĩa là hoạt động kinh doanh… Nhƣ vậy, khái niệm thƣơng mại cần đƣợc hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
Theo nghĩa rộng, thƣơng mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng. Thƣơng mại đồng nghĩa với kinh doanh, đƣợc hiểu nhƣ là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trƣờng. Theo nghĩa hẹp, thƣơng mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trƣờng, là lĩnh vực phân phối, lƣu thông hàng hóa. Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa) vƣợt ra khỏi biên giới quốc gia thì ngƣời ta gọi là ngoại thƣơng (kinh doanh quốc tế).
Nội thương Nội thƣơng là hoạt động thƣơng mại diễn ra trong phạm vi biên giới của một quốc gia (thƣơng mại nội địa). Trong hoạt động nội thƣơng, chỉ tiêu TMBLHH và DTDVTD đƣợc coi là một thƣớc đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động. Hàng hóa Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con ngƣời và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.
Hàng hóa là một phạm trù lịch sử, xuất hiện và tồn tại khi có phân công lao động xã hội với những chủ sở hữu khác nhau về tƣ liệu sản xuất hoặc những chủ thể kinh doanh. Thị trường Thị trƣờng, trong kinh tế học và kinh doanh, là nơi ngƣời mua và ngƣời bán (hay ngƣời có nhu cầu và ngƣời cung cấp) tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau để trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ. Đó là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lƣợng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ. Giá D S E 0 Số lƣợng sản phẩm Sơ đồ đƣờng cong cung (S), cầu (D) và điểm cân bằng (E) [17] Thị trƣờng hoạt động theo quy luật cung cầu.
Cung là số lƣợng có để bán hoặc số lƣợng mà ngƣời bán sẵn lòng bán ở một giá xác định. Lý thuyết về cung cầu và điểm cân bằng là lý thuyết trung tâm của kinh tế học. Đƣờng cong (D) biểu diễn nhu cầu tăng lên khi giảm giá, còn đƣờng cong (S) biểu diễn lƣợng cung ứng thƣờng tăng tên khi giá cả tăng lên. Điểm cân bằng (E) chỉ ra sự kết hợp giữa giá cả và số lƣợng sản phẩm mà tại đó cả ngƣời mua và ngƣời bán đều thỏa thuận.
Trong nền kinh tế thị 8 trƣờng, giá cả có thể thay đổi nhanh chóng do sự thay đổi trong quan hệ cung – cầu. Về mặt lý thuyết, khi cung lớn hơn cầu, thì ngƣời sản xuất phải giảm giá, ngƣợc lại khi cung nhỏ hơn cầu thì ngƣời mua sẽ đẩy giá lên do họ cạnh tranh nhau để mua đƣợc hàng. Lƣợng hàng bán ra bằng lƣợng hàng khách mua, và sự cung cầu nhƣ vậy luôn luôn cân bằng. Quy luật cung cầu quy định giá cả chỉ trong nền kinh tế thị trƣờng tự do cạnh tranh, nhƣng trên thực tế, trong nhiều trƣờng hợp các chính phủ đã can thiệp làm hạn chế quy luật này.
TMBLHH và DTDVTD TMBLHH và DTDVTD là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ doanh thu hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng đã bán ra thị trƣờng của các cơ sở kinh doanh, bao gồm: doanh thu bán lẻ hàng hóa của các cơ sở kinh doanh thƣơng nghiệp, doanh thu bán lẻ sản phẩm của các cơ sở sản xuất của nông dân trực tiếp bán ra thị trƣờng, doanh thu khách sạn, nhà hàng, doanh thu du lịch lữ hành, doanh thu dịch vụ phục vụ cá nhân, cộng đồng và các dịch vụ khác do các tổ chức và cá nhân kinh doanh, phục vụ trực tiếp cho ngƣời tiêu dùng. Vai trò, chức năng của nội thƣơng. Vai trò Nội thƣơng là một trong hai phân ngành của thƣơng mại, làm nhiệm vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong một quốc gia. Là một bộ phận của nền kinh tế nội thƣơng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở nƣớc ta.
Hoạt động nội thƣơng là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Thông qua hoạt động buôn bán trên thị trƣờng, nhà sản xuất đƣợc cung ứng nguyên liệu, vật tƣ, máy móc và tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra. Đối với ngƣời tiêu dùng, hoạt động nội thƣơng không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của họ mà họ còn có tác dụng tạo ra thị hiếu mới, nhu cầu mới. Điều đó đảm bảo cho quá trình sản xuất đƣợc bình thƣờng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, lƣu thông hàng hóa và dịch vụ trong nƣớc đƣợc thông suốt.
Thông qua các hoạt động quảng cáo, khuyến mãi… hoạt động nội thƣơng có vài trò rất lớn trong việc hƣớng dẫn tiêu dùng, tạo ra các tập quán tiêu dùng mới. Hoạt động nội thƣơng có vai trò rất lớn trong phân công lao động theo lãnh thổ giữa các vùng trong nƣớc. Đó là vì mỗi vùng tham gia vào quá trình phân công lao 9 động theo lãnh thổ bằng cách sản xuất ra những sản phẩm hàng hóa dựa trên các lợi thế so sánh của mình để cung cấp cho các vùng khác, đồng thời lại tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nhập từ ngoài vùng. Phân công lao động theo lãnh thổ càng sâu sắc thì thƣơng mại nói chung và nội thƣơng nói riêng càng phát triển và ngƣợc lại.
Trong hoạt động nội thƣơng có sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trƣờng trong mua bán hàng hóa, dịch vụ. Quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh là quan hệ bình đẳng, thuận mua vừa bán, nói cách khác là quan hệ đƣợc tiền tệ hóa. Vì vậy, trong hoạt động buôn bán đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự năng động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy cải tiến, phát huy sáng kiến để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trên thị trƣờng. Điều đó góp phần thúc đẩy lực lƣợng sản xuất phát triển nhanh chóng, giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trƣờng cạnh tranh.
Chức năng Chức năng của mỗi ngành kinh tế là một phạm trù khách quan, đƣợc hình thành trên cơ sở phát triển lực lƣợng sản xuất và trình độ phận công lao động xã hội. Ở nƣớc ta, nội thƣơng có những chức năng cơ bản sau đây: - Tổ chức quá trình lƣu thông hàng hóa, dịch vụ trong nƣớc. Đây là chức năng xã hội của nội thƣơng, đòi hỏi phải nghiên cứu và nắm vững nhu cầu của thị trƣờng hàng hóa, dịch vụ, huy động và sử dụng hợp lý các nguồn hàng nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu của xã hội, thiết lập hợp lý các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân và thực hiện có hiệu quả cac hoạt động dịch vụ trong quá trình kinh doanh. - Thông qua quá trình lƣu thông hàng hóa, nội thƣơng thực hiện chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lƣu thông.
Thực hiện chức năng này, nội thƣơng phải tổ chức công tác vận chuyển hàng hóa, tiếp nhận, bảo quản, phân loại và lồng ghép đồng bộ hàng hóa… - Thông qua hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa trong nƣớc, nội thƣơng thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, góp phần làm tăng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nƣớc, từ đó làm cơ sở đẩy mạnh hoạt động ngoại thƣơng, gắn kết thị trƣờng trong nƣớc với thị trƣờng quốc tế. 10 - Nội thƣơng thực hiện chức năng chuyển hóa hình thái giá trị của hàng hóa, dịch vụ (từ giá trị sang giá trị sử dụng). Đây là chức năng quan trọng nhằm đáp ứng tốt mọi nhu cầu của sản xuất và đời sống, nâng cao mức hƣởng thụ của ngƣời tiêu dùng. Đặc điểm chính của nội thƣơng.
- Nền kinh tế thị trƣờng là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều đƣợc tiền tệ hóa; các yếu tố của sản xuất (nhƣ đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý; các sản phẩm và dịch vụ tạo ra; chất xám…) đều là đối tƣợng mua bán và trở thành hàng hóa. Nền kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc là nền kinh tế hỗn hợp vừa có cơ chế tự điều chỉnh của thị trƣờng và vừa có cơ chế quản lý, điều tiết của Nhà nƣớc. Trong điều kiện nhƣ vậy, nội thƣơng có những đặc điểm cơ bản sau: - Phát triển trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong nƣớc dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần, bao gồm kinh tế Nhà nƣớc, kinh tế ngoài Nhà nƣớc (kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tƣ bản tƣ nhân, kinh tế tƣ bản Nhà nƣớc), kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. - Phát triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa dƣới sự quản lý của Nhà nƣớc.