Nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ Devon sớm vùng Tô Múa, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus hóa thạch hai mảnh vỏ devon sớm vùng tô múa huyện vân hồ tỉnh sơn la và ý nghĩa địa tầng của, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Địa chất học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2020

100
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU

1.1. Vị trí địa lý

1.2. Đặc điểm địa chất vùng nghiên cứu

1.3. Địa tầng GIỚI PALEOZOI HỆ CAMBRI – HỆ ORDOVIC

1.3.1. Hệ tầng Bến Khế

1.3.2. Hệ tầng Sinh Vinh

1.3.3. Hệ tầng Bó Hiềng

1.3.4. Hệ tầng Sông Mua

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ Devon sớm tại Tô Múa

Nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ Devon sớm tại Tô Múa, Vân Hồ, Sơn La là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực địa chất học. Hóa thạch hai mảnh vỏ (Bivalvia) là một nhóm động vật có giá trị trong việc xác định tuổi địa chất và môi trường sống cổ. Tại vùng Tô Múa, các mẫu hóa thạch này đã được phát hiện và nghiên cứu, cung cấp thông tin quý giá về sự phát triển của động vật trong kỷ Devon. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học mà còn góp phần vào việc xác định địa tầng của khu vực.

1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm địa chất vùng Tô Múa

Vùng Tô Múa nằm ở huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, có độ cao trung bình từ 800 đến 1000 mét so với mặt nước biển. Địa hình nơi đây bị chia cắt mạnh mẽ, tạo điều kiện cho sự hình thành các lớp địa tầng khác nhau. Đặc điểm địa chất của vùng này chủ yếu là các đá từ kỷ Devon, với sự hiện diện của các hóa thạch hai mảnh vỏ, cho thấy sự phong phú và đa dạng của hệ sinh thái cổ đại.

1.2. Lịch sử nghiên cứu hóa thạch tại Tô Múa

Nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ tại Tô Múa đã được thực hiện từ nhiều năm trước, với sự đóng góp của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ ra sự phong phú của hóa thạch hai mảnh vỏ trong các lớp địa tầng Devon, từ đó mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà địa chất học.

II. Thách thức trong nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ tại Tô Múa

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ tại Tô Múa cũng gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là việc xác định chính xác tuổi của các hóa thạch này. Sự phân bố không đồng đều của các lớp địa tầng và sự biến đổi của môi trường sống cổ cũng gây khó khăn trong việc phân tích và so sánh với các khu vực khác.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập mẫu hóa thạch

Việc thu thập mẫu hóa thạch tại Tô Múa gặp nhiều khó khăn do địa hình phức tạp và điều kiện thời tiết không thuận lợi. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thu thập và bảo quản mẫu, từ đó làm giảm chất lượng nghiên cứu.

2.2. Vấn đề xác định tuổi địa tầng

Xác định tuổi địa tầng của hóa thạch hai mảnh vỏ là một thách thức lớn. Các phương pháp hiện có đôi khi không đủ chính xác để phân biệt giữa các lớp địa tầng gần nhau, dẫn đến khó khăn trong việc xác định thời gian xuất hiện và phát triển của các loài.

III. Phương pháp nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ tại Tô Múa

Để nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ tại Tô Múa, nhiều phương pháp đã được áp dụng. Các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập mẫu ngoài thực địa, gia công mẫu và chụp ảnh để phân tích hình thái và cấu trúc của hóa thạch. Ngoài ra, phương pháp mô tả và định loại cũng được sử dụng để xác định các loài hóa thạch.

3.1. Phương pháp thu thập mẫu ngoài thực địa

Phương pháp thu thập mẫu ngoài thực địa là bước đầu tiên trong nghiên cứu hóa thạch. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát các điểm lộ hóa thạch tại đèo Bó Mồng, nơi có sự hiện diện của nhiều mẫu hóa thạch hai mảnh vỏ. Việc thu thập mẫu được thực hiện cẩn thận để đảm bảo chất lượng và tính đại diện của mẫu.

3.2. Phương pháp mô tả và định loại hóa thạch

Sau khi thu thập mẫu, các nhà nghiên cứu tiến hành mô tả và định loại hóa thạch. Phương pháp này bao gồm việc phân tích hình thái, kích thước và các đặc điểm khác của hóa thạch để xác định loài và phân loại chúng vào các nhóm phù hợp.

IV. Kết quả nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ tại Tô Múa

Kết quả nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ tại Tô Múa cho thấy sự phong phú và đa dạng của các loài trong kỷ Devon. Các mẫu hóa thạch được thu thập đã cung cấp thông tin quý giá về điều kiện môi trường sống cổ và sự phát triển của động vật trong thời kỳ này. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ giữa hóa thạch hai mảnh vỏ và môi trường trầm tích, từ đó giúp hiểu rõ hơn về sự biến đổi của hệ sinh thái.

4.1. Đặc điểm hình thái của hóa thạch hai mảnh vỏ

Hóa thạch hai mảnh vỏ tại Tô Múa có nhiều đặc điểm hình thái đa dạng, phản ánh sự thích nghi của chúng với môi trường sống. Các mẫu hóa thạch cho thấy sự khác biệt rõ rệt về kích thước và hình dạng, từ đó giúp xác định các loài khác nhau.

4.2. Ý nghĩa địa tầng của hóa thạch hai mảnh vỏ

Hóa thạch hai mảnh vỏ không chỉ có giá trị trong việc xác định tuổi địa chất mà còn giúp hiểu rõ hơn về điều kiện môi trường sống cổ. Chúng cung cấp thông tin về sự phát triển của hệ sinh thái trong kỷ Devon, từ đó góp phần vào việc xây dựng bản đồ địa chất khu vực.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu hóa thạch tại Tô Múa

Nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ tại Tô Múa đã mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu địa chất trong tương lai. Những kết quả đạt được không chỉ có giá trị trong việc hiểu biết về lịch sử địa chất mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển tài nguyên sinh vật cổ. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai sẽ tập trung vào việc mở rộng khảo sát và phân tích các mẫu hóa thạch từ các khu vực khác.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc mở rộng khảo sát hóa thạch tại các khu vực khác trong tỉnh Sơn La và các tỉnh lân cận. Việc này sẽ giúp làm phong phú thêm dữ liệu về hóa thạch hai mảnh vỏ và các loài động vật khác trong kỷ Devon.

5.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu hóa thạch

Nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định tuổi địa chất mà còn giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển của hệ sinh thái cổ. Điều này có thể cung cấp thông tin quý giá cho các nghiên cứu về biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus hóa thạch hai mảnh vỏ devon sớm vùng tô múa huyện vân hồ tỉnh sơn la và ý nghĩa địa tầng của chúng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý Vùng nghiên cứu thuộc xã Tô Múa, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, phía bắc Việt Nam (Hình 1. Xã Tô Múa nằm ở phía bắc huyện Vân Hồ, phía đông giáp xã Mường Tè, phía tây giáp xã Hua Păng (Mộc Châu), phía nam giáp xã Chiềng Khoa, phía bắc giáp xã Suối Bàng, Song Khủa.

Đây là vùng núi cao có độ cao trung bình khoảng 800 m - 1000 m so với mặt nước biển, địa hình bị chia cắt mạnh và thay đổi rõ rệt theo chiều từ tây nam lên đông bắc. Nằm ở bờ phải phía hạ lưu Sông Đà, các dãy núi có độ cao trung bình từ 500-800m. Mạng sông suối khá dày đặc, sông lớn nhất trong vùng là Sông Đà và các sông suối nhánh của nó như suối Bàng, suối Sơ Vin, suối Nhúng, suối Ngùi, suối Khủa, suối Ngậm, suối Kế, suối Chum. Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu; A, vị trí địa lý của vùng nghiên cứu trong khu vực Tây Bắc Việt Nam; B, vị trí vùng nghiên cứu ở tỉnh Sơn La; C, các điểm lộ (ngôi sao đen – CS801, CS802, CS135, CS796 và CS736) của hệ tầng Bản Nguồn tại đèo Bó Mồng, vùng Tô Múa, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vùng nghiên cứu nằm trong phạm vi của hai á miền khí hậu tây bắc và đông bắc.

Á miền khí hậu tây bắc thuộc phần cực tây nam của tờ bản đồ, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, nhưng chịu ảnh hưởng lớn của gió tây nam, ít mưa. Á miền khí hậu đông bắc chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa đông bắc, giá lạnh, mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa đông nam, mưa nhiều, thực vật phát triển phong phú, có nhiều loại gỗ quý và tre nứa. Giao thông đường thuỷ có Sông Đà. Đường bộ có đường ô tô 101 nối liền các xã, thôn, bản là tuyến đường giao thông huyết mạch trong vùng.

Ngoài ra, còn có hệ thống đường lâm nghiệp, đường dân sinh nối liền giữa các bản làng trong vùng (Hình 1. Dân cư phân bố không đều, có 4 dân tộc sinh sống gồm Thái, Kinh, Dao và Mường. Tình hình kinh tế xã hội còn thấp. Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp, thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ.

Đặc điểm địa chất vùng nghiên cứu Vùng nghiên cứu nằm trong tờ Bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:200.000 tờ Vạn Yên. Địa chất tờ Vạn Yên đã được nghiên cứu từ lâu. Đầu tiên là những công trình nghiên cứu địa chất của các nhà địa chất Pháp: Lantenois (1906-1907), Deprat (1913, 1914, 1915), Dussault (1921), Jacop (1922, 1925) đến năm 1929 Dussault thành lập tờ bản đồ địa chất Vạn Yên tỷ lệ 1:100. Sau này Đovjikov (1965) thành lập bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 là một công trình nghiên cứu địa chất đầu tiên của Việt Nam được tiến hành có hệ thống và đồng bộ nhiều phương pháp.

Nguyễn Xuân Bao và nnk., (1969) hoàn thành Bản đồ địa chất tờ Vạn Yên tỷ lệ 1:200. Từ năm 1979 trở lại đây, trên diện tích tờ Vạn Yên đã có nhiều công trình đo vẽ lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản được hoàn thành như Bản đồ địa chất nhóm tờ Vạn Yên- Hoà Bình-Suối Rút tỷ lệ 1:50.000 của Nguyễn Công Lượng và nnk., (1992, 1995), các công trình nghiên cứu chuyên đề của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước. Nhìn chung, vùng nghiên cứu nằm trong một vùng tổng thể có đặc điểm địa chất phức tạp xuất hiện của các đá từ Cambri đến Đệ tứ, chiếm khối lượng chủ yếu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là các đá tuổi Devon và ít hơn là các đá của địa tầng Cambri và Trias (. Địa tầng GIỚI PALEOZOI HỆ CAMBRI – HỆ ORDOVIC  Hệ tầng Bến Khế (ε-O1 bk) Mặt cắt chuẩn (Holostratotyp): mặt cắt Bản Chanh - Bản Khủa (dọc theo bờ sông Đà, đông nam làng Bến Khế 1 km, Mộc Châu, Sơn La.

Hệ tầng gọi theo tên làng Bến Khế (ven hạ lưu sông Đà, Mộc Châu, Sơn La) nơi lộ tốt các thành tạo hệ tầng (Dovjikov A. Hệ tầng Bến Khế gồm trầm tích lục nguyên xen kẹp trầm tích lục nguyên - carbonat. Chúng khác biệt rõ với các đá hoa dolomit thuộc hệ tầng Đá Đinh (NP 3 dd) nằm không chỉnh hợp dưới và các đá vôi dolomit sáng màu dạng khối thuộc hệ tầng Sinh Vinh (O3-S sv) nằm không chỉnh hợp trên nó. Trong vùng nghiên cứu, hệ tầng Bến Khế lộ trên một diện nhỏ, phân bố chủ yếu ở phía đông bắc.

Tại mặt cắt chuẩn Bản Chanh - Bản Khua, có trật tự địa tầng từ dưới lên như sau: 1. Cuội, sạn kết thạch anh và cát kết hạt thô phân lớp dày. Dá phiến sét chứa vôi, phân dải, kẹp bột kết. Đá vôi chíra nhiều tạp chất, xám sáng.

Quarzit hạt nhỏ, bột kết,và trên cùng là đá phiến sét bột kết. Quan hệ địa tầng và tuổi. Hệ tầng nằm bất chỉnh hợp trên đá hoa dolomit của hệ tầng Đá Đinh (NP3 dd) và không chỉnh hợp dưới hệ tầng Sinh Vinh (O-S sv). Tuổi Ordovic của hệ tầng được Trần Hữu Dần (1997) xác định dựa trên các di tích tảo Manchuriophycus sp.

trong đá phiến thạch anh - sericit thuộc phần cao mặt cắt Nậm Cáy - đèo Sin Hồ và tuổi Cambri đến Ordovic được Nguyễn Văn Hoành (2001) xác định dựa trên tảo ẩn nguồn Orygmatosphaeridium sp. HỆ ORDOVIC, THỐNG THƯỢNG – HỆ SILUR 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com  Hệ tầng Sinh Vinh (O-S sv) Mặt Cắt chuẩn (Holostratotyp): dọc bờ phải sông Đà, đoạn từ cửa suối Sinh Vinh đến cửa suối Nậm Tơn. Tên hệ tầng đặt theo suối Sinh Vinh, nơi bắt đầu lộ mặt cắt chuẩn của hệ tầng (Dovjikov A. Đặc trưng của hệ tầng Sinh Vinh là đá vôi chiếm vai trò chủ yếu, trong đó phần ưu trội là đá vôi dolomit xám sáng phân lớp dày.

Hệ tầng này dễ phân biệt với trầm tích lục nguyên của hệ tầng Bến Khế ( ε-O bk) nằm dưới và đá phiến sét vôi sẫm màu phân lớp mỏng của hệ tầng Bó Hiềng (S2 bh) nằm trên. Hệ tầng lộ thành một dải hẹp theo hướng tây bắc – đông nam ở phía tây bắc vùng nghiên cứu, dọc theo sông Đà. Ở mặt cắt chuẩn đoạn cửa suối Sinh Vinh, hệ tầng gồm ba phần rõ nét với bề dày khoảng 800m. Phần dưới: cuội kết cơ sở.

Phần giữa: cát kết vôi, bột kết vôi, đá vôi dolomit, đá vôi cát, đá vôi sét, chứa san hô Reuschia sp., Plasmoporella kiaeri, Favositella alveolata. Phần trên: đá vôi dolomit, xám sáng, phân lớp dày, kẹp đá phiến sét vôi; chứa san hô Favosites sp. Quan hệ địa tầng và tuổi. Theo Nguyễn Xuân Bao và nnk.

Hệ tầng nằm chỉnh hợp dưới hệ tầng Bó Hiềng (S 3-4 bh) (Tống Duy Thanh và nnk., 2005; Nguyễn Đình Hợp và nnk. Tuổi Ordovic - Silur của hệ tầng được xác định nhờ phát hiện hoá thạch san hô tuổi Ordovic muộn trong những ổ vôi của phần thấp hệ tầng ở gần cửa suối Sinh Vinh, và hoá thạch san hô Silur muộn thuộc phần cao của hệ tầng. HỆ SILUR, THỐNG TRUNG 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com  Hệ tầng Bó Hiềng (S3-4 bh) Hệ tầng do Nguyễn Vĩnh (1978) xác lập theo mặt cắt Bo Tao - Bó Hiềng - Tiên Ban (bờ Sông Đà) vùng Bó Hiềng, huyện Mộc Châu, Sơn La. Hệ tầng phân bố rộng rãi ở phía đông bắc vùng nghiên cứu, dọc theo bờ phải sông Đà.

Nguyễn Vĩnh (1978) mô tả mặt cắt chuẩn chiếm phần thấp của mặt cắt Bo Tao - Phu Chuột, đoạn từ Bo Tao đến Tiên Ban gồm: 1. Đá phiến vôi màu xanh sẫm, vàng lục xen đá vôi xám đen, có ít sét dạng dải, chứa Retziella weberi. Đá vôi đen, đá vôi kết tinh, đá vôi cát màu xám, phân lớp mỏng và trung bình, có xen những dải mỏng và rất mỏng sét vôi màu đỏ nâu, vàng và bột kết màu xám lục, chứa Retziella weberi, Tadschikia xuanbaoi, Howellella sp. Quan hệ địa tầng và tuổi.

Hệ tầng Bó Hiềng nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Sinh Vinh (O-S sv) và chỉnh hợp dưới hệ tầng Sông Mua (D1 sm). Tống Duy Thanh và nnk. (2001) xếp hệ tầng Bó Hiềng vào Silur thượng trên cơ sở phức hệ hóa thạch Retziella weberi. HỆ DEVON, THỐNG HẠ  Hệ tầng Sông Mua (D1 sm) Hệ tầng Sông Mua do Dovjikov xác lập ở Tây Bắc Bộ (Dovjikov và nnk.

Mặt cắt chuẩn của hệ tầng ở thượng nguồn Sông Mua phía dưới làng Ngã Hai, huyện Phù Yên, Sơn La. Đặc trưng cua hệ tầng là có bề dày lớn (1500 m ờ mặt cắt Hoà Bình - Tu Lý và 2300 m ở mặt cắt thượng nguồn Sông Mua), thành phần chủ yếu gồm đá phiến sét đen, phân biệt rõ nét với đá của các hệ tầng khác của Devon ở Bắc Bộ. Trong vùng nghiên cứu, hệ tầng lộ trên các khối nhỏ tạo thành một dải không liên tục kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam. Tại mặt cắt chuẩn, theo Dovjikov và nnk.

(1965) hệ tầng gồm hai phần: Phần dưới. Đá phiến sét đơn dạng, chủ yếu màu đen, đôi khi màu lục, xen ít lớp kẹp cát kết màu xám lục và quarzit, dày 300 m. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phần trên. Cũng gồm các loại đá tương tự, nhưng số lượng các lớp kẹp cát kết và quarzit giảm đáng kể, dày gần 500 m.

Nguyễn Vĩnh (1977) đã mô tả chi tiết lại mặt cắt thượng nguồn Sông Mua và phân thành 5 tập: 1. Đá phiến có vôi màu đen, xám đen, phần dưới có chỗ dạng sọc, xen ít lớp cát kết mỏng, phần trên xen vài lớp đá phiến sét than; dày gần 900 m. Đá phiến có vôi màu đen, xám đen; dày 700 m. Đá phiến có vôi màu đen và xám chiếm ưu thế, phần dưới xen những lớp cát kết, phần trên cùng có một số thấu kính đá vôi mỏng; dày 400 m.

Hoá thạch đã được thu thập gồm Howittia wangi (= Hysterolites wangi), Chonetes sp., Rhynchonellida, Spiriferida, Pteria (Actinopteria) sp., di tích Bọ ba thuỳ và cá bảo tồn kém. Đá phiến sét màu đen và xám đen, cát kết dạng quarzit; dày 400 m. Tập hợp hoá thạch phong phú gồm: Howitlia cf. wangi, ?Pugnacina sp.

spatulata, Mytilarca? sp. Đá phiến vôi và đá vôi có cát, sét màu xám, xám đen, phân lóp dày và dạng khối; dày 170 m. Hoá thạch San hô bốn tia bảo tồn xấu. Bề dày chung của mặt cắt này khoảng 2300 m.

Quan hệ địa tầng và tuổi. Hệ tầng nằm chỉnh hợp trên đá vôi, vôi sét của hệ tầng Bó Hiềng và nằm chỉnh hợp dưới trầm tích chứa phức hệ hoá thạch Euryspirifer tonkinensis của hệ tầng Bản Nguồn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu hóa thạch hai mảnh vỏ Devon sớm tại Tô Múa, Vân Hồ, Sơn La" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hóa thạch từ thời kỳ Devon, giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự phát triển của các loài sinh vật trong quá khứ. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ các đặc điểm địa chất của khu vực mà còn mở ra những cơ hội mới trong việc nghiên cứu và bảo tồn di sản địa chất. Đặc biệt, tài liệu này sẽ hữu ích cho những ai quan tâm đến địa chất học và sinh học cổ đại, giúp họ nắm bắt được các khía cạnh quan trọng của sự tiến hóa sinh vật.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hus đặc điểm cổ địa lý thời kỳ miocen khu vực thái bình trên cơ sở nghiên cứu hóa thạch trùng lỗ foraminifera và bào tử phấn hoa. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về các đặc điểm địa lý và hóa thạch trong một thời kỳ khác, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về sự phát triển của địa chất và sinh vật qua các thời kỳ.