MỞ ĐẦU Từ lâu, con ngƣời đã biết việc sử dụng những loại cây cỏ trong tự nhiên làm thảo dƣợc để chữa bệnh một cách có hiệu quả nhƣng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm đƣợc truyền lại. Ngày nay con ngƣời đã đi sâu và phân tích cơ sở khoa học của tác dụng chữa bệnh của cây thuốc, các nhà nghiên cứu đã phân loại đƣợc rất nhiều hợp chất từ cây cỏ và hiểu rõ hơn về thành phần hóa học, tách dụng sinh học của những hợp chất này. Bên cạnh việc ứng dụng những hoạt chất có nguồn gốc từ thảo dƣợc tự nhiên chữa bệnh trong y học cổ truyền đã đƣợc biết từ rất lâu, các hợp chất phân lập từ cây cỏ còn đƣợc ứng dụng một cách rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp, nông nghiệp, đƣợc dùng làm thuốc bảo vệ thực vật, làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm… Mặc dù, công nghệ toàn phần hợp dƣợc ngày nay phát triển mạnh mẽ, nhiều loại biệt dƣợc đã đƣợc tạo ra sử dụng trong phòng, chữa bệnh, nhƣng chúng luôn để lại tác dụng phụ không mong muốn. Hơn nữa, một số loại hợp chất tự nhiên rất khó đƣợc tổng hợp theo phƣơng thức hóa học, trong khi đó các loại thuốc dân gian hầu nhƣ không gây ra tác dụng phụ.
Cây Thuốc Thƣợng (Phaeanthus vietnamensis Ban), còn có tên gọi là Thuốc Mọi, Da Xà Lắc, Thuốc Dấu Cà Doong thuộc họ Na – Annonaceae là một cây gỗ nhỏ hay bụi, đã đƣợc sử dụng nhiều trong dân gian nhất là trong chiến tranh – Thuốc Thƣợng đƣợc sử dụng nhƣ một thuốc chống nhiễm trùng trên vết thƣơng rất tốt. Trong dân gian dùng lá non hấp chín trên nồi cơm, lấy nƣớc nhỏ mắt chữa đau mắt đỏ. Vỏ rễ, vỏ thân và lá đem nấu cao dán chỗ mụn nhọt sƣng tấy. Còn đƣợc dùng chữa bệnh đƣờng ruột (tiêu chảy).
Cao đặc nấu từ lá, chế thành viên nén dùng chữa bệnh ỉa phân trắng ở lợn con rất tốt. Cây Thuốc Thƣợng đƣợc sử dụng đắp lên vết thƣơng để ngăn nhiễm trùng rất tốt. Hiện nay, chỉ có một công trình khoa học nghiên cứu về thành phần hóa học và chƣa có công trình nghiên cứu về tác dụng dƣợc lý của cây Thuốc Thƣợng. Do đó, đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cây Thuốc Thƣợng (Phaeanthus vietnamensis Ban)” đƣợc thực hiện với các nội dung: - Xác định các hợp chất hóa học có trong cây Thuốc Thƣợng.
1 - Thu nhận alkaloid toàn phần, cao toàn phần và cao phân đoạn của cây Thuốc Thƣợng: dietyl ete, chloroform, n – butanol, nƣớc. - Xác định hoạt tính kháng khuẩn của: cao toàn phần, cao phân đoạn, alkaloid toàn phần. - Xác định hoạt tính độc tế bào ung thƣ của: cao toàn phần, cao phân đoạn, alkaloid toàn phần. - Xác định cao có hoạt tính sinh học tốt nhất, tiến hành sắc ký cột, xác định chất tinh khiết và chạy phổ để xác định cấu trúc của nó.
- Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn và kháng ung thƣ của chất phân lập đƣợc. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm mục đích: Xác định một số thành phần hoá học có trong cây Thuốc Thƣợng và một số hoạt tính sinh học (khả năng kháng khuẩn, khả năng gây độc tế bào) của các cao chiết (cao toàn phần, cao phân đoạn, alkaloid toàn phần) và chất phân lập đƣợc từ cây Thuốc Thƣợng. Qua đó góp phần tăng hiểu biết về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của cây thuốc Việt Nam. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.
Tổng quan về cây Thuốc Thƣợng 1. Vị trí phân loại Tên thông dụng: Thuốc Thƣợng, Thuốc Mọi, Da Xà Lắc, Thuốc Dấu Cà Doong. Tên khoa học: Phaeanthus vietnamensis Ban. Thuộc: - Giới: Thực vật - Ngành: Magnoliophyta - Lớp: Magnoliopsida - Bộ: Magnoliales - Họ: Annonaceae (Na) - Chi: Phaeanthus [2][13].
Mô tả thực vật Hình 1.1: Cây Thuốc Thƣợng Phaeanthus vietnamensis Ban [2] Cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi, cao 2-10 m. Cành non gần nhƣ không lông. Lá thuôn hoặc gần hình mác, dài 9-16 cm, rộng 3,6-5 cm, đầu có mũi dài và nhọn; gốc hình nêm, hơi lệch, không lông; gân bên 9-11 đôi; cuống dài 5-6 mm. Hoa mọc so le với lá, thƣờng thành xim 2 hoa.
Hoa có cuống dài 1,5-3 cm mang 4-6 lá bắc nhỏ; lá đài và 3 cánh hoa ngoài rất giống nhau, dài trên 1mm, cánh hoa trong màu vàng dài 8-12 mm, rộng 4-6 m; nhị nhiều, lá noãn nhiều (trên 10). Phân quả hình trái xoan, cỡ 12-15 x 6-7 mm, không có lông, khi chín màu vàng sau chuyển thành màu mận chín; cuống dài 13- 15 mm; vỏ quả rất mỏng. Ra hoa tháng 5-12, có quả tháng 6-1 [2][51]. Phân bố, sinh thái Phaeanthus vietnamensis Ban là loài thực vật đặc hữu của vùng Trung Trƣờng Sơn.
Nơi sống và thu hái: mới thấy ở Trung bộ Việt Nam: Thừa Thiên - Huế (Phú Lộc), Quảng Nam - Đà Nẵng (Đại Lộc, Quế Sơn, Núi Thành, Duy Xuyên, Tiên Phƣớc, Phƣớc Sơn) [2][11][51]. Bộ phận dùng Bộ phận dùng: lá, vỏ và vỏ rễ [2][51]. Thành phần hóa học và tác dụng dƣợc lý Hiện chỉ có một công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và chƣa có công trình nghiên cứu về tác dụng hóa sinh - dƣợc lý của cây Thuốc Thƣợng (Phaeanthus vietnamensis Ban) [51]. Công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Thuốc Thƣợng còn hạn chế.
Nguyễn Thị Nghĩa và các cộng sự (1991) đã phân lập đƣợc 8 alkaloid từ cây Thuốc Thƣợng. Năm alkaloid đƣợc xác định thuộc nhóm isoquinolines gồm N-methyl- 6,7-dimethoxyisoquinolon, N-methylcorydaldin, argentinin, phenanthrenes và atherosperminin, secobenzylisoquinolin petalinemethin [14][15]. Hai alkaloid thuộc nhóm bisbenzylisoquinolines là 1S,1'R-(-)-7,7'-O,O'-dimethylgrisabin và 1S,1'R-(-)-7- O-methylgrisabin. Tính vị, công dụng Dân gian dùng lá non hấp chín trên nồi cơm, lấy nƣớc nhỏ mắt chữa đau mắt đỏ.
Vỏ rễ, vỏ thân và lá đem nấu cao dán chỗ mụn nhọt sƣng tấy. Còn đƣợc dùng chữa bệnh đƣờng ruột (tiêu chảy). Cao đặc nấu từ lá, chế thành viên nén dùng chữa bệnh ỉa phân trắng ở lợn con rất tốt [2][51]. Khái quát về alkaloid 1.
Khái niệm Alkaloid có nguồn gốc từ chữ: alcali tiếng Ả rập là kiềm. Alkaloid là: 4 - Những hợp chất hữu cơ có chứa dị vòng nitơ, có tính bazơ thƣờng gặp ở trong nhiều loài thực vật và đôi khi còn tìm thấy trong một vài loài động vật. - Có phản ứng kiềm cho các muối với axit và các muối này dễ kết tinh. - Có hoạt tính sinh học rất quan trọng.
- Có một số phản ứng chung là tạo “tủa” cần thiết cho sự xác định chúng. - Tên của alkaloid có chứa nitơ thƣờng đƣợc quy định gọi tên bằng cây mà chúng đƣợc chiết xuất cộng thêm đuôi “in”. Chúng là một nhóm hợp chất thiên nhiên quan trọng về nhiều mặt. Đặc biệt trong lĩnh vực y học, chúng cung cấp nhiều loại thuốc có giá trị chữa bệnh cao và độc đáo [1].
Cấu tạo hóa học Về mặt hóa học, nghiên cứu sự phong phú và đa dạng của alkaloid đã trở thành một chuyên ngành, chiếm một vị trí quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu và trong tạp chí thông tin về hóa học. Đối với việc nghiên cứu alkaloid còn quan trọng hơn bởi vì chúng phân bố trong hệ thực vật nhiệt đới phong phú. Về mặt cấu trúc hóa học, chúng có ít nhất một nguyên tử nitơ trong phân tử, chủ yếu nằm trong vòng. Có ý kiến xếp các hợp chất có N ngoài vòng nhƣ colchicin, hordenin, là các protoalkaloid.
Sự có mặt của nguyên tử N trong cấu trúc quyết định tính bazơ của alkaloid. Alkaloid bao giờ cũng có nitơ (N), carbon (C) và hydro (H), đồng thời cũng hay gặp oxy (O). Vì vậy đôi khi ngƣời ta chia làm hai nhóm là loại có mang oxy và loại không mang oxy. Loại không mang oxy, có nghĩa là trong cấu tạo chỉ có C, H, N nhƣ: conin (C8H17N), nicotin (C10H14N2), spactien (C15H28N2), semperoirin (C19H16N2)… Những alkaloid không có oxy chiếm phần lớn.
Đó là các morphin (C17H19O3N), codein (C18H12O3N), atropine (C17H23O3N), cocain (C17H21O4N), mescalin (C11H17O3N), pilocacbin (C11H26O2N6), strychnin (C21H22O2N2), quinin (C19H24O2N2)… Các alkaloid là các bazơ bậc 1, 2 hay 3 đôi khi là các amoni hydrat bậc 4. Thông thƣờng nhất là nitơ (N) tham gia vào nhân dị vòng, nhƣng cũng có những alkaloid mà các nitơ ở ngoài vòng [1][4]. Phân loại alkaloid Ngày nay tùy vào cấu trúc của nhân mà ngƣời ta phân loại các alkaloid. Đó là các alkaloid không có nhân dị vòng, có nhân dị vòng, có nhân sterol và có cấu trúc terpen [1].
Alkaloid không có nhân dị vòng Những alkaloid thuộc loại nhóm này có các amin, còn gọi là các protoalkaloid và có N đính vào mạch ngang. Ví dụ: hordenin (C10H15NO) trong mạch nha, ephedrin (C10H15NO) trong ma hoàng, capsaichin (C19H27NO3) trong ớt. Alkaloid là dẫn xuất của nhân pyrol Các dẫn chất của pyrol hay nói đúng hơn là của pylolidin vì nhân đã đƣợc hydro hóa hoàn toàn. Ví dụ: pyrolidin (C4H9N) trong cà rốt, hygrin (C8H15NO) trong lá coca.
Những alkaloid là dẫn xuất của nhân pyridin Ví dụ: arecolin (C8H13NO2) trong hạt cau, nicotin (C10H14N2) trong thuốc lá. Những alkaloid là dẫn xuất của nhân indol Ví dụ: haemalin (C13H14N3O) trong Peganum harmala, strychinin (C21H22N2O2) trong mã tiền, bruxin (C23H26N2O4) trong mã tiền. Những alkaloid là dẫn xuất của nhân tropan Ví dụ: atropin (C17H23NO3) trong Atropa beladoza, cocain (C17H21NO4) trong lá coca, scopolamine (C17H21NO4) trong Hyoscyamus niger. Những alkaloid là dẫn xuất của nhân imidazol Ví dụ: pilocacpin (C11H16N2O2) trong Jaborandi, jaborin (C22H23N4O4) trong Jaborandi, pilocacpidin (C10H14N2O2) trong Jaborandi.
Những alkaloid là dẫn xuất của nhân purin Ví dụ: theophyllin (C5H2(CH3)2N4O2) trong chè, theobromin (C5H2(CH3)2N4O2) trong cacao, cafein ( C5H2(CH3)2N4O2) trong chè, cà phê. Những alkaloid là dẫn xuất của nhân quinolin Ví dụ: các alkaloid chiết từ vỏ cây canhkina nhƣ quinin (C20H24N2O2), quinidin (C20H24N2O2), xinchonin (C19H22N2O), xinchinodin (C19H22N2O). 6 Những alkaloid là dẫn xuất của nhân isoquinolin Ví dụ: berberin (C20H19NO5) trong hoàn liên gai, papaverin (C20H21NO4) và narcotin (C22H23NO7) trong thuốc phiện, emetin (C30H44N2O4) trong ipeca, xechelin (C28H38N2O4) trong peca. Những alkaloid là dẫn xuất của nhân phenanthren Ví dụ: morphin (C17H19NO3H2O), thebain (C19H19NO3) và codein (C18H21NO3) trong thuốc phiện; colchicin (C23H25NO6) trong tỏi độc.
Những alkaloid có nhân sterol Nhóm này có thể kể alkaloid của họ cà đó là ancamin 27C và alkaloid connexin Những alkaloid có cấu trúc terpen Cấu trúc terpen là cấu trúc trong phân tử chỉ có C, H hoặc C, H, O. Genalkaloid là do chức amin bậc 3 của vài alkaloid bị khóa bởi nguyên tử oxy, tạo ra một nhóm chức aminooxit R=N→O nhƣ N – oxy – hyozxiamin, N – oxyhiosxin, N – oxy – bufotein. Các genalkaloid thƣờng có độc tính giảm đi nhiều so với alkaloid, ví dụ ít độc hơn atropin 250 lần. Để điều chế genalkaloid ngƣời ta cho các alkaloid tác dụng với H2O2.
Phân bố alkaloid Cromwell (1995) ƣớc tính alkaloid phân bố trong khoảng 1 phần 7 loài thực vật có hoa. Một ƣớc tính khác (Hegnauer, 1963) cho rằng alkaloid có từ 12 % - 20 % trong tổng số cây có nhựa.