MỞ ĐẦU Sâu tơ , Plutella xylostella (L.) (Lepidoptera:Yponomeutidae), là một loài sâu hại quan trọng trên rau trồng họ Thập Tự (Crucifcrac) ở nhiều nước trên thế giới. Riêng tại Việt Nam, tốn thất hằng năm do chúng gây nên ước khoảng 30-50% tống sản lượng[3]. Sử dụng thuốc trừ sâu hóa học đã từng được thừa nhận là biện pháp hữu hiệu nhất đối với chúng. Các ưu điểm như rẽ tiên, dễ sử dụng, và hiệu quả cao đã khiến nông dân lạm dụng thuốc trừ sâu, hậu quả làm nẫy sinh nhiều vấn để mà chúng ta phải đương đầu ngày nay: sâu hình thành tính kháng thuốc, môi trường sinh thái bị ô nhiễm, sức khóc con người bi de dọa.
Chính vì vậy việc phòng trừ loài sâu hại này đã trở thành một mặt trận phức tạp đòi hỏi sự tham gia nghiên cứu của các chuyên gia thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó có các nhà côn trùng học và các nha di truyền học. Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA) và Tổ Chức Lương Nông Quốc Tế (FAO) từ lâu đã phối hợp chủ trì việc nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật côn trùng vô sinh (Sterile Insect Technique, viết tắt SIT) vào thực tiển phòng trừ sâu hại. Nội dung cơ bản của biện pháp này là xử lý phóng xạ tạo ra các cá thế vô sinh hoàn toàn qua các cơ chế di truyền như đột biến chết trội, chuyển đoạn, v. sau đó tha chúng vào quần thể tự nhiên với số lượng lớn nhằm làm giảm mật độ quần thế.
Các thành tựu đã đạt được chủ yếu trên các đối tượng thuộc bộ Diptera như ruồi thịt Cochliomyia , ruồi đục quả Dacus cucurbitae v. Riêng các loài sâu hại bộ Lepidoptera, sức để kháng phóng xạ cửa chúng cao hơn han so với bộ Diptera [77][100], điều này dẫn đến liều phóng xạ đáp ứng yêu cầu gây vô sinh hoàn toàn phải cao, hậu quả làm chúng bị giám khả năng cạnh tranh giao phối và sức sống. Hiện tượng vô sinh di truyén ở hậu thế F1 sâu bố mẹ xử lý liễu phóng xạ đưới vô sinh được phát hiện lần đầu tiên trên loài Carpocapsa pomonella (Lepidoptera: Olethreutidae) vào năm 1962 [109] đã mở ra phương hướng nghiên cứu ứng dụng phòng trừ sâu hại có tên gọi là vô sinh Fl (FI Sterility) - còn gọi là vô sinh di truyền (Inherited Sterility), vô sinh một phần (Partly Sterility), vô sinh chậm (Delayed Sterility). Chúng tôi thực hiện dé tài: “ Góp phần nghiên cứu hiệu ứng vô sinh Fl của liều bức xa gamma 200 Gy trên sâu tơ Plutella xylostella (L.)” với mục đích: - - Bước đầu xây dựng cơ sở khoa học cho nghiên cứu gây tao vô sinh Fl ở sâu tơ hại rau tại Việt Nam.
- Tham dò tiểm năng của biện pháp vô sinh F1 đối với việc kim him số lượng quần thể sâu tơ tại Đà Lạt, một trong những trung tâm trồng rau lớn nhất tại Việt Nam. Nội dung cơ bản của luận án bao gồm: - _ Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái học của sâu tơ ở Đà Lat. - _ Nghiên cứu vô sinh ở sâu tơ chiếu xạ và hậu thế F1 của chúng. - _ Đánh giá ảnh hưởng của sâu tơ vô sinh phóng thả đối với quần thể sâu tơ trong lổng ngoài đồng ruộng.
Để tài luận án là một phần của chương trình nghiên cứu hợp tác quốc tế “Đánh giá sự kìm hãm quần thể côn trùng bởi loài Lepidoptera chiếu xạ và hậu thế của chúng” (Evaluation of insect population suppression by irradiated Lepidoptera and their progeny) (1992-1998) do Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA) chủ trì. CHƯƠNG MỘT TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG VÔ SINH GÂY TẠO TRONG PHÒNG TRỪ SÂU HAI Trong lịch sử loài người, bảo đảm nhu cầu về lương thực và thực phẩm bao giờ cũng là một vấn để cấp thiết. Dan số tăng nhanh không tương ứng với sự gia tăng của sản lượng cây trồng.
Thêm vào đó, tổn thất do sâu hại gây ra chiếm 20% tổng sản lượng nông nghiệp/năm, riêng vùng nhiệt đới con số này lên đến 30% [6]. Đã có thời kỳ một số loại thuốc trừ sâu hóa học được “sủng ái” và trao toàn quyển bảo vệ thực vật cho chúng. Sau Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai lượng DDT sản xuất lên tới 2 triệu tấn/năm để rải trên hàng trăm triệu hecta. Hiện nay, vài nghìn loại thuốc trừ sâu đang lưu hành trên thị trường thế giới.
Nhiều loại có phổ tác động rộng và tổn lưu lâu dai. Riêng tại nước ta, danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tính từ đầu năm 1998 gồm 245 hoạt chất với 708 tên thương phẩm: thuốc hạn chế sử dụng gồm 21 loại hoạt chất với 46 tên thương phẩm; thuốc cấm sử dụng g6m 23 loại hoạt chất [1]. Bảo vệ thực vật bằng thuốc trừ sâu có ưu điểm là hiệu quả nhanh và giá thành tương đối rẻ. Từ đó dễ dẫn đến lạm dụng thuốc trừ sâu.
Kết quả nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy hiệu quả của thuốc càng ngày càng giảm. Nhiều trường hợp phải tăng nồng độ thuốc lên tới hàng chục lần, số lần phun thuốc tăng gấp 10 lần mà sâu bệnh vẫn không trừ được. Có khi năng suất cây trồng ở đó lại giảm sút so với nơi không phun thuốc. Một quá trình chọn lọc tự nhiên đã diễn ra một cách nhanh chóng.
Các cá thể có đột biến kháng thuốc đã được tự nhiên chọn lọc và bảo tổn tạo ra những chủng sinh vật trơ với thuốc. Việc sử dụng thiếu cân nhắc thuốc trừ sâu còn là nguyên nhân làm cho cơ chế điều chỉnh tự nhiên số lượng quần thể bị rối loạn, tạo điều kiện cho các sâu hại phát triển mạnh mẽ. Mặt khác, lượng thuốc trừ sâu rải khắp ruộng đồng làm nhiễm bẩn và đầu độc môi sinh. Sự tham gia của các loại thuốc trừ sâu (nhất là các loại thuốc có tác động tích tụ) vào chuỗi thức ăn dẫn đến một số hiện tượng kỳ lạ như thuốc trừ sâu được phát hiện trong chim cánh cụt ở Nam cực và trong gấu trắng ở Bắc cực.
Mặt khác, các chất hữu cơ lơ lững trong nước, đặc biệt là dầu hỏa và các sản phẩm cửa dầu hỏa chứa DDT với lượng 10.000 lần lớn hơn nước, còn bùn ở dưới đáy biển thì chứa DDT với lượng 1,7 triệu lần lớn hơn nước [69]. Chim bị ngộ độc thường xuyên khi ăn cá và các động vật ở nước. Ở Việt Nam, hiện trạng ô nhiễm môi trường do thuốc trừ sâu hoá học đã trở thành vấn để cần được quan tâm. Các loại thuốc này đã và đang là những nguyên nhân đóng góp vào việc làm giảm số lượng nhiễu loài sinh vật có ích, làm giảm tính đa dang sinh học, ảnh hưởng có hại đối với sức khỏe con người.
Tỷ lệ thuóc hóa học sử dụng bình quân trên 1 ha gieo trồng là 0,4-0,5 kg chất hữu hiệu a. Cá biệt ở vùng rau Đà lạt 5,1 — 13,5 kg a./ha; vùng trồng bông Thuận Hải 1,7-2,5 kg a./ha; vùng trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long 1,5-2,7 kg a./ha; vùng chè ở Hoà Bình 3,2- 3,5 kg a. Điều mâu thuẫn là ngay sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, Viện Hàn Lâm Khoa Học Thụy Điển tặng giải Nobel cho nhà khoa học Thụy Sĩ Miller, người đã có công phát minh ra tính chất diệt sâu của DDT vào năm 1937, nhưng gần đây, cũng ở Thụy Điển và nhiều nước khác việc dùng DDT bị nhà nước nghiêm cấm. Yêu cầu cấp bách phải bảo vệ thực vật có hiệu quả trên một qui mô sản xuất lớn, cùng với lời kêu gọi khẩn thiết phẩi bảo vệ môi sinh vi lợi ích lâu dài của con người đã làm hướng đấu tranh sinh học trong bảo vệ thực vật ngày càng phát triển.
Năm 1888, qua thành công của việc nhập nội loài bo rùa Rodolia cardinalis vào bang California (Mỹ) để phòng trừ rệp sáp Icerya purchasi phá hại các vườn cây ăn quả do nhà côn trùng học A. Koebele đề xuất, biện pháp đấu tranh sinh học được hiểu là “biện pháp sử dụng sinh vật để ngăn chận sự sinh sôi nảy nở của các loài vật gây hại khác”, và côn trùng học là ngành khoa học có những công trình ứng dụng đầu tiên. Tiếp sau đó, các loài ăn thịt (bọ xít Reduvius personatus, bọ rùa Lidorus lochantae, v.), các loài ký sinh (ong ho Ichneumonidae, họ Chalcidae,v.), và các loài gây bệnh (vi khuẩn Bacillus thuringiensis, nấm Metarhiziumy.) đã lần lượt được đưa vào đồng ruộng để ngăn chận sự phát triển của sâu hại [6]. Những năm gần đây, các thành tựu đạt được trong lĩnh vực sinh lý học, sinh thái học, hóa sinh học, và nhất là trong lĩnh vực di truyển học đã dần dần mở rộng phạm vi vận dụng và tăng cường hiệu quả cho phương hướng phòng trừ sinh học.
Sự kìm hãm sâu hại bằng biện pháp di truyền độc đáo ở chỗ phóng thả các sâu bị biến đổi vé mặt di truyền để khống chế chính loài ấy, tức tự tiêu diệt. Xét về tính đặc trưng và sự an toàn, biện pháp này hơn hẳn biện pháp hóa học. Cơ sở của biện pháp di truyén là làm cho các cá thể của quần thể sâu hại mất khả năng sinh đẻ bình thường (gây cảm ứng nhân tạo hoặc cho những cá thể thuộc các quần thể không phù hợp về mặt di truyền giao phối với nhau để có được những thế hệ con cháu vô sinh). Hiện tượng vô sinh cảm ứng ở sâu đực có thể có ba kiểu ở ba mức độ: - Tinh trùng hoàn toàn không phát triển.
- Tinh trùng phát triển nhưng không bình thường. Chúng không chuyển động được và không có khả năng thụ tỉnh trứng. - _ Có những biến đổi trong cấu trúc nhiễm sắc thể của tinh trùng : xuất hiện cầu nối giữa các nhiễm sắc thể, đảo đoạn, chuyển đoạn. Tỉnh trùng vẫn chuyển động được và còn khả năng thu tinh trứng.
Cách gây tao vô sinh côn tràng Gây tạo vô sinh ở côn trùng thường được tiến hành hoặc bằng hóa chất hoặc bằng phóng xạ. Các hóa chất gây vô sinh côn trùng thuộc ba nhóm [6]: - _ Những hợp chất alkylin tạo nên những sai hình nhiễm sắc thé trong tế bào sinh dục đực và cái. - Những hợp chất làm rối loạn trao đổi chất, chủ yếu tác động qua đường ruột. Các tế bào khi đã tiếp nhận các chất này thì sẽ không thể thực hiện được sinh tổng hợp bình thường mà lại tổng hợp nên những chất kỳ quái.