ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những thập niên vừa qua, lĩnh vực nuôi trồng thủy sản của Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng, góp phần tích cực vào việc cung cấp nguồn thực phẩm, tăng cƣờng sản lƣợng nuôi trồng, đóng góp vào tổng kim nghạch xuất khẩu thủy sản là rất lớn. Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt, thiếu qui hoạch của ngành thủy sản trong những năm gần đây đặc biệt là trong nuôi cá dẫn đến môi trƣờng ao bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trƣờng, bệnh và dịch bệnh đang là mối quan tâm hàng đầu của ngƣời nuôi cá và ngƣời quản lý trong nghề nuôi trồng thủy sản nói chung. Các nhà nghiên cứu và nhận định rằng nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc của các vùng nuôi thủy sản chính là các loại thức ăn.
Để tăng cƣờng sản lƣợng thu hoạch và mang lại nhiều lợi nhuận thì ngƣời nuôi cá sẵn sàng nuôi với mật độ cao và sử dụng một lƣợng thức ăn rất lớn và đa dạng, cùng với lƣợng hóa chất, các chất kháng sinh đã gây ra tình trạng ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng đáng báo động. Từ đó đƣa ra biện pháp xử lý vừa phù hợp với điều kiện kinh tế vùng, lại vừa đạt hiệu quả xử lý cao, chú trọng đến biện pháp sinh thái gắn liền với tự nhiên đồng thời hƣớng đến phát triển bền vững để bảo đảm sản lƣợng và chất lƣợng sản phẩm tạo ra ổn định, ngày càng phát triển một cách tốt hơn. Có nhiều công nghệ xử lý nƣớc thải thủy sản đã và đang đƣợc áp dụng trên thế giới, chủ yếu là ứng dụng giải pháp sinh học để xử lý các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy trong thành phần nƣớc thải. Hiện nay có 4 nhóm công nghệ đang đƣợc áp dụng để xử lý nƣớc thải ao nuôi thủy sản: - Hệ thống xử lý bằng bùn hoạt tính.
- Hệ thống xử lý kỵ khí. - Hệ thống xử lý kỵ khí kết hợp hiếu khí. - Hệ thống xử lý bằng bùn hoạt tính kết hợp với thực vật thủy sinh. 2 Phƣơng pháp thiếu khí ít đƣợc quan tâm do thời gian xử lý kéo dài, thích hợp cho những nơi có diện tích rộng lớn.
Phƣơng pháp xử lý hiếu khí và kỵ khí đƣợc áp dụng nhiều hơn, chủ yếu là hiếu khí tăng cƣờng (Aerotank) và kỵ khí cải tiến UASB có ƣu điểm là hiệu suất cao, thời gian xử lý ngắn. Nhƣng cả hai phƣơng pháp này cũng có nhƣợc điểm là: kinh phí vận hành cao do sử dụng điện cho các thiết bị nhƣ bơm và máy thổi khí, không có khả năng xử lý nƣớc thải bị ô nhiễm cao, tạo ra lƣợng bùn thải lớn và tính ổn định của hệ thống thƣờng không cao. Kết hợp với nhu cầu thực tế và khắc phục yếu điểm của các phƣơng pháp trƣớc đây, luận văn này tiến hành “Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước thải ao nuôi cá bằng công nghệ MBBR – Moving Bed Biofilm Reactor”. So với quá trình bùn hoạt tính thì quá trình diễn ra trong bể MBBR có khả năng loại bỏ chất ô nhiễm cao hơn do chuỗi thức ăn dài trong lớp màng hình thành trên giá thể lơ lửng trong bể có số lƣợng nhiều và phong phú các loài nhƣ: protozoa, metozoa, vi khuẩn và nấm.
Khả năng xử lý trên một đơn vị thể tích bể cao hơn quá trình bùn hoạt tính thông thƣờng do số lƣợng sinh khối trên mỗi đơn vị thể tích của màng vi sinh cao hơn. Nhờ quá trình tạo màng liên tục và loại bỏ phần vi sinh già chết ở phía ngoài, điều này làm cho trẻ hóa năng lƣợng, vi sinh mới nhanh chóng phát triển. Lƣợng bùn dƣ sinh ra ít hơn quá trình bùn hoạt tính.