Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và bước đầu dự tính hiệu quả kinh tế của cây sơn tra docynia indica wall decne tại huyện bát xát tỉnh lào cai

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và hiệu quả kinh tế cây sơn tra tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, mang lại tiềm năng phát triển nông nghiệp.

Trường đại học

Không tìm thấy thông tin

Chuyên ngành

Không tìm thấy thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Không tìm thấy thông tin

Không tìm thấy thông tin

75
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Những nghiên cứu về cây Sơn tra trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1. Những nghiên cứu về cây Sơn tra trên thế giới

1.1.2. Những nghiên cứu về cây Sơn tra ở Việt Nam

1.2. Một số đặc điểm cơ bản về cây Sơn tra

1.3. Về tên gọi, phân loại cây Sơn tra

1.4. Đặc điểm hình thái của cây Sơn tra

1.5. Đặc điểm phân bố, sinh thái

1.6. Thành phần hóa học và đặc tính dược lý cây Sơn tra

1.7. Tình hình phát triển cây Sơn tra tại tỉnh Lào Cai

1.8. Tổng quan về khu vực nghiên cứu (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai)

1.8.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Bát Xát

1.8.2. Điều kiện về kinh tế - xã hội của huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.3.2. Phương pháp thu thập số liệu, nghiên cứu đánh giá đặc điểm sinh trưởng cây Sơn tra ở các cấp tuổi khác nhau trên các chất lượng đất khác nhau

2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu để đánh giá hiệu quả kinh tế cây Sơn tra trên địa bàn nghiên cứu

2.3.4. Xử lý số liệu về hiệu quả kinh tế

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Sơ lược về đặc điểm hình thái và sinh thái của loài Sơn tra tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

3.2. Đặc điểm về hình thái của cây Sơn tra tại khu vực nghiên cứu

3.3. Đặc điểm sinh thái cây Sơn tra và cấu trúc rừng nơi Sơn tra phân bố

3.4. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Sơn tra ở các cấp tuổi khác nhau trên chất lượng đất khác nhau

3.4.1. Đặc điểm Sinh trưởng của cây Sơn tra 1-3 tuổi trên chất lượng đất khác nhau tại khu vực nghiên cứu

3.4.2. Đặc điểm Sinh trưởng của cây Sơn tra 4-5 tuổi trên các chất lượng đất khác nhau

3.4.3. Đặc điểm sinh trưởng của cây Sơn tra 6-10 tuổi trên các chất lượng đất khác nhau

3.5. Bước đầu dự tính hiệu quả kinh tế của cây Sơn tra trên 6 năm tuổi

3.6. Hiệu quả kinh tế trồng cây Sơn tra trên địa bàn nghiên cứu

3.7. Hiệu quả xã hội trồng cây Sơn tra trên địa bàn nghiên cứu

3.8. Hiệu quả môi trường do trồng cây Sơn tra mang lại trên địa bàn nghiên cứu

3.9. Những thuận lợi và khó khăn của địa phương khi thúc đẩy phát triển cây Sơn tra tại huyện Bát Xát

3.9.1. Những thuận lợi của huyện Bát Xát khi trồng cây Sơn tra

3.9.2. Những khó khăn, thách thức phát triển cây Sơn tra tại địa phương

3.10. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây Sơn tra trên địa bàn nghiên cứu

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC XỬ LÝ SỐ LIỆU

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hiệu quả kinh tế cây Sơn Tra tại Bát Xát

Cây Sơn Tra (Docynia indica) là một trong những loài cây dược liệu quý hiếm tại Việt Nam, đặc biệt là ở tỉnh Lào Cai. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế và sinh trưởng của cây Sơn Tra tại huyện Bát Xát, nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của loài cây này. Việc nghiên cứu không chỉ giúp nâng cao giá trị kinh tế cho người dân địa phương mà còn góp phần bảo tồn nguồn gen quý hiếm của cây dược liệu.

1.1. Đặc điểm sinh thái và phân bố cây Sơn Tra tại Bát Xát

Cây Sơn Tra thường mọc ở độ cao trên 1000 m, với điều kiện khí hậu ôn đới và đất rừng phong phú. Tại huyện Bát Xát, cây Sơn Tra phân bố chủ yếu ở các xã Y Tý, Dền Thàng, và Pa Cheo. Đặc điểm sinh thái của khu vực này rất phù hợp cho sự phát triển của cây Sơn Tra, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển tốt.

1.2. Tính cấp thiết của nghiên cứu cây Sơn Tra

Nghiên cứu cây Sơn Tra không chỉ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân mà còn góp phần bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật quý hiếm. Việc phát triển cây Sơn Tra sẽ tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái.

II. Vấn đề và thách thức trong phát triển cây Sơn Tra tại Bát Xát

Mặc dù cây Sơn Tra có nhiều tiềm năng phát triển, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc trồng và chăm sóc. Những vấn đề này bao gồm kỹ thuật trồng, chăm sóc cây, và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Việc thiếu thông tin và kiến thức về kỹ thuật trồng cây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao.

2.1. Thách thức về kỹ thuật trồng cây Sơn Tra

Kỹ thuật trồng cây Sơn Tra còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc lựa chọn giống và phương pháp chăm sóc. Nhiều hộ dân chưa nắm rõ quy trình trồng và chăm sóc cây, dẫn đến năng suất thấp và chất lượng quả không đạt yêu cầu.

2.2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm cây Sơn Tra

Thị trường tiêu thụ sản phẩm từ cây Sơn Tra còn hạn chế, khiến người dân gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm. Việc xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm là cần thiết để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

III. Phương pháp nghiên cứu hiệu quả kinh tế cây Sơn Tra tại Bát Xát

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các phương pháp thu thập số liệu, phân tích và đánh giá đặc điểm sinh trưởng của cây Sơn Tra. Các phương pháp này bao gồm khảo sát thực địa, phỏng vấn người dân và phân tích số liệu thu thập được để đưa ra những kết luận chính xác về hiệu quả kinh tế của cây Sơn Tra.

3.1. Phương pháp thu thập số liệu về sinh trưởng cây Sơn Tra

Số liệu về sinh trưởng của cây Sơn Tra được thu thập từ các khu vực trồng khác nhau, bao gồm các yếu tố như chiều cao cây, đường kính thân và năng suất quả. Việc thu thập số liệu này giúp đánh giá chính xác tình hình sinh trưởng của cây.

3.2. Phân tích hiệu quả kinh tế cây Sơn Tra

Phân tích hiệu quả kinh tế của cây Sơn Tra được thực hiện thông qua việc tính toán chi phí đầu tư, doanh thu từ sản phẩm và lợi nhuận thu được. Kết quả phân tích sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về lợi ích kinh tế từ việc trồng cây Sơn Tra.

IV. Kết quả nghiên cứu sinh trưởng và hiệu quả kinh tế cây Sơn Tra

Kết quả nghiên cứu cho thấy cây Sơn Tra có khả năng sinh trưởng tốt ở các điều kiện đất khác nhau. Năng suất quả của cây Sơn Tra tăng theo độ tuổi, với cây từ 6 năm tuổi trở lên cho năng suất cao nhất. Hiệu quả kinh tế từ cây Sơn Tra cũng được đánh giá là khả quan, với lợi nhuận cao hơn so với nhiều loại cây trồng khác.

4.1. Đặc điểm sinh trưởng của cây Sơn Tra qua các độ tuổi

Cây Sơn Tra từ 1-3 tuổi có sinh trưởng chậm, nhưng từ 4-5 tuổi, tốc độ sinh trưởng bắt đầu tăng lên. Đến 6-10 tuổi, cây đạt năng suất tối ưu, cho quả chất lượng cao và giá trị kinh tế lớn.

4.2. Hiệu quả kinh tế từ cây Sơn Tra

Hiệu quả kinh tế từ cây Sơn Tra được tính toán dựa trên chi phí đầu tư và doanh thu từ việc bán quả. Kết quả cho thấy lợi nhuận từ cây Sơn Tra cao hơn nhiều so với các loại cây trồng khác, tạo động lực cho người dân mở rộng diện tích trồng.

V. Kết luận và triển vọng phát triển cây Sơn Tra tại Bát Xát

Nghiên cứu về cây Sơn Tra tại Bát Xát đã chỉ ra rằng cây có tiềm năng lớn trong việc phát triển kinh tế địa phương. Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế từ cây Sơn Tra. Tương lai của cây Sơn Tra tại Bát Xát hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị cho người dân và bảo vệ môi trường.

5.1. Đề xuất biện pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả kinh tế

Để nâng cao hiệu quả kinh tế từ cây Sơn Tra, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật như chọn giống tốt, cải thiện quy trình chăm sóc và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Việc này sẽ giúp tăng năng suất và chất lượng quả, từ đó nâng cao giá trị kinh tế cho người dân.

5.2. Tương lai của cây Sơn Tra tại Bát Xát

Tương lai của cây Sơn Tra tại Bát Xát rất sáng sủa, với tiềm năng phát triển lớn. Việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển cây Sơn Tra sẽ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn nguồn gen quý hiếm của loài cây này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và bước đầu dự tính hiệu quả kinh tế của cây sơn tra docynia indica wall decne tại huyện bát xát tỉnh lào cai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về cây Sơn tra trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Những nghiên cứu về cây Sơn tra trên thế giới 1. Đặc điểm hình thái B. Schubert et al (1964) nêu thông tin một chi liên quan chặt chẽ với chi Docynia là chi Chaenomeles (chi Mộc qua) đặc điểm khác biệt giữa 2 chi này là số lượng chỉ nhị trong hoa của Docynia từ 30 – 50, trong chi Chaenomeles là 40 – 60 chỉ nhị.

Mặc dù sự khác biệt là không lớn về số lượng chỉ nhị giữa 2 chi, nhưng đây là tài liệu tham khảo quan trọng để phân biệt nhận biết loài Sơn tra với các loài khác thuộc chi Mộc qua. Đặc điểm hình thái Sơn tra, các tác giả Amal Bhusan Chaudhuri (1993), HOOKER, J. Bose et al (1998) mô tả là cây gỗ nhỡ, cao đến 20 m. Vỏ cây màu nâu hoặc xám, có đốm trắng.

Cành non, lá non và cụm hoa có phủ một lớp lông tơ dày đặc. Lá cây non xẻ thùy và gần như nhẵn. Lá trưởng thành hình trứng hay hình mũi mác, dài 5-10 cm, nhọn, một phần hoặc toàn bộ mép lá có đường răng cưa nhỏ. Quả có màu xanh khi chín có màu xanh vàng, khi chín màu vàng lục có đốm đỏ, đường kính khoảng 4 cm.

Những thông tin mô tả đầy đủ đặc điểm hình thái và kích thước, tuy nhiên cũng mang tính cơ bản khó nhận biết ngoài thực tế. Đặc điểm phân bố, sinh thái Amal Bhusan Chaudhuri (1993) nghiên cứu thực vật bản địa của Ấn Độ đã cho thấy Sơn tra có ở vùng Kalimpong với tên địa phương là: Indian crab apple; Assam - Sohphoh; Khasi - sohphoh; Nep - mehel. Peter Hanelt et al (2001) cho biết trên thế giới Sơn tra phân bố ở dãy núi Himalaya, gồm các khu vực: Nepal, Sikim, Bhutal; Assam, Manipur; một phần phía Bắc của Myanmar, Thailand, Việt Nam, Tây Nam Trung Quốc, mọc tại những vùng có độ cao trong khoảng 1. Sundrial (2003) thuộc Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển Himalaya, Ấn Độ, trong nghiên cứu về các loài cây ăn được, mọc tự nhiên ở vùng Sikkim của dãy Himalaya, đã lựa chọn Sơn tra là một trong 6 loài cây tiềm năng 5 để thuần hóa.

Nghiên cứu cho thấy Sơn tra có phân bố ở độ cao 900 – 1800 m, mọc chủ yếu ở phía Đông của dãy Himalaya, thuộc các vùng Nepal, Sikkim, Darjee-ling và Bhutan. Các loài cây bạn mọc cùng với Sơn tra ở khu vực này chủ yếu là Hồ Đào (Juglans regia), Chè súm (Eurya acuminata), Mai anh đào (Prunus cerasoides), Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis indica),. trên trạng thái rừng phục hồi. Sambamurty (2005) trong cuốn Taxonomy of Angiosperms mô tả Sơn tra là một cây được tìm thấy ở phía Đông dãy Himalaya và những ngọn đồi Khasia của Ấn Độ, là một trong những loại cây có quả ăn được.

Jingyun Fang et al (2011) đã lập Atlat họ Hoa hồng (Rosaceae) tại Trung Quốc, có 947 loài thuộc 40 chi, trong đó có chi Docynia với 2 loài gồm Docynia indica Wall.) và Docynia Delavayi (Franch. Trong bản đồ của Atlat cho thấy Sơn tra có phân bố chủ yếu ở tỉnh Vân Nam và một phần nhỏ tại tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc, không thể hiện các khu vực khác trên thế giới. Các nghiên cứu về giá trị sử dụng J. Siemonsma (1989) mô tả Sơn tra cùng với 22 loài quả khác được sử dụng như là rượu bổ, đồ uống và rượu để tăng cường tiêu hóa, ho, hen suyễn và suy nhược và là một nguồn vitamin C.

Chen Jin et al (1999), thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc tỉnh Vân Nam trong nghiên cứu về thực vật học trái cây ăn được ở miền nam Vân Nam, đã xác định được danh mục 123 loài cây trong đó có Sơn tra được người dân địa phương sử dụng làm thực phẩm. Nghiên cứu cũng cho thấy, đời sống của người dân địa phương vấn mang tính tự cung tự cấp, trong một số trường hợp, người dân địa phương đã chặt cây hoặc các cành nhánh để lấy quả ở phía trên của tán cây. Tuy nhiên, các hoạt động này ít gây ảnh hưởng đến tính bền vững của các nguồn tài nguyên bởi nhu cầu không cao. Mei Wenquan et al (2002) phân tích về thành phần trái cây Sơn tra thu thập từ Thành phố Lệ Giang, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

Kết quả nghiên cứu cho thấy các chất và hợp chất protein thô, Ca, P, K, proline và aspartate, cao hơn so với các loại trái cây phổ biến khác. Các tác giả Manju Sundryal, R. Sundriyal (2003) phân tích hàm lượng các chất trong quả Sơn tra thu hái tại vùng Sikkim của dãy Himalaya thu được kết quả: 6 3,03% Ash; 1,75% Protein; 0,35% Fat; 71,73% Carbohydrate; 12,89% Đường tổng số; 0,142% P; 0,033% Na; 0,431% K; 0,124% Ca. Nghiên cứu cũng cho biết dịch chiết của quả Sơn tra được người dân bản địa nấu thành cao, có tác dụng chữa bệnh rối loạn tiêu hóa rất tốt.

Jyoti Prakash Tamang et al (2005) nghiên cứu thống kê trong số 128 loài thực vật hoang dã ăn được, thu thập từ những nơi khác nhau trên dãy Himalaya của bang Sikkim, Ấn Độ, với 63 loài thực vật hoang dã có trái cây ăn được trong đó có Sơn tra. Nghiên cứu cũng đã phân tích thành phần dinh dưỡng quả Sơn tra. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4% Ash, 6,7% Fat, 32,2% Protein và 57,1% Carbohydrate. Hàm lượng Na, Kali và Canxi tương ứng trên 100g quả sấy khô là 15,3 mg, 202,8 mg và 200,5 mg.

Yash Paul Singh, Geeta Sumbali (2012) nghiên cứu về độc tố Penicillium trong trái cây Sơn tra thối sau thu hoạch đã chỉ ra rằng, hai chất độc Penicillium gồm Patulin và Citrinin đã được tìm thấy trong trái Sơn tra chín thối. Cả hai chất độc đã được phát hiện với hàm lượng rất cao. Patulin được phát hiện lên đến 36 mg/kg quả; trong khi mức Citrinin có hàm lượng thấp hơn (6 mg/kg quả). Hàm lượng này là rất cao so với WHO khuyến cáo mức độ chịu đựng.

Công trình nghiên cứu này cũng đề nghị cần có phương pháp thu hái, bảo quản phù hợp và phân loại Sơn tra trước khi phân phối ra thị trường, không sử dụng những quả bị dập, thối. Jubilee Purkayastha (2016) mô tả Sơn tra là loài cây mọc hoang tại vùng Đông Bắc Ấn Độ. Quả được người dân bản địa sử dụng từ lâu đời dùng làm thực phẩm theo các cách: ăn tươi, phơi khô, nước ép quả, làm mứt,… Shende KM et al (2016) đã nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn và chống oxy hóa từ dịch chiết quả Sơn tra. Quả Sơn tra được thu thập từ vùng Maipur của Ấn Độ, thành phần hóa học dịch chiết methanol từ quả được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.

Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ phenol (phenolics) cao hơn ở trái cây chưa trưởng thành (tối đa 196,15 mg axit gallic/gram chiết xuất) và flavonoids (lên đến 100,49 mg rutin/gram chiết xuất) phụ thuộc vào dung môi sử dụng để chiết xuất. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các hợp chất chống oxy hóa và kháng khuẩn có trong của dịch chiết quả Sơn tra cho biết tiềm năng của nó đối với việc dùng làm chất bảo quản thực phẩm. Các nghiên cứu về chọn giống, nhân giống, gây trồng Joseph D. Postman (1994) nghiên cứu chọn gốc ghép cho 3 giống của loài Lê Pyrus communis (Beurre Bosc, Bartlett, Passe Crassane) đã thử nghiệm ghép trên gốc ghép cây Sơn tra.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sống cành ghép của 10 lần lặp trong thí nghiệm đều cao hơn 70%, đây là vấn đề cần nghiên cứu thử nghiệm để tạo giống Lê ghép phù hợp để trồng cho vùng cao Tây Bắc Việt Nam. Rai et al (2005) đưa Sơn tra vào danh mục loài cây trồng cho quả tiềm năng của vùng Đông Bắc dãy Himalaya. Các tác giả cũng cho biết, đôi khi cây Sơn tra được sử dụng làm gốc ghép cho Táo “apple”, khi ghép sẽ tạo ra cây bán lùn (semi-dwarf). Công bố này không đưa ra kết quả nghiên cứu ghép và chưa chỉ rõ cành ghép là loài Táo nào, nên thông tin chỉ mang tính tham khảo.

Elliott (2008) trong quá trình điều tra nghiên cứu phương pháp phục hồi rừng ở Chiang Mai – Thailand đã thấy Sơn tra được trồng xen với Thông ba lá (Pinus kesiya), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), Mai anh đào (Prunus cerasoides D. Đặc điểm lập địa khu vực trồng có độ cao tuyệt đối khoảng 1.200 m, lượng mưa trung bình năm 1.210 mm/năm, nhiệt độ bình quân năm khoảng 210C, mùa mưa từ tháng 5 – 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mặc dù khu vực trồng có vị trí, điều kiện lập địa rất gần với nơi phân bố và đặc điểm sinh thái của loài (Amal Bhusan Chaudhuri, 1993; Peter Hanelt, R. Büttner, Rudolf Mansfeld, 2001), nhưng Sơn tra trồng tại khu vực này chỉ cao khoảng 50 cm sau nhiều năm trồng (không tìm thấy hồ sơ năm trồng), nguyên nhân cây kém phát triển các tác giả đưa ra có thể do vị trí gần bãi chăn thả tự do nên bị gia súc phá hoại hoặc kỹ thuật lâm sinh chưa phù hợp.

Những nghiên cứu về cây Sơn tra ở Việt Nam 1. Nghiên cứu về phân loại và phân bố của cây Sơn tra Để giúp phân biệt Sơn tra với một số loài có cùng tên gọi tác giả Đỗ Tất Lợi (1962) trong công trình Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, đã mô tả 4 loài cây mang tên Sơn tra: (i) Bắc sơn tra (Crataegus pinnatifida Bunge); (ii) Nam sơn tra hay Dã sơn tra (Crateagus cuneata Sieb.et Zucc), hai loài Bắc sơn tra và Nam sơn tra không có phân bố tại Việt Nam; (iii) cây Chua chát, còn gọi là Sán sá, có tên khoa học 8 là Malus doumeri Bois (Chev.) hay Docynia doumeri Bois (Schneid), thuộc họ Hoa hồng. Cây này cao 10 - 15 m, cây non có gai. Lá nguyên hình bầu dục dài 6 - 15 cm, rộng 3 - 6 cm, mép khía răng cưa.

Hoa hợp thành tán từ 3 - 5 hoa. Hoa mẫu 5, cánh màu trắng. Quả tròn hơi dẹt, khi chín ngả màu vàng lục, đường kính 5 - 6 cm, cao 4 - 5 cm, vị hơi chua chát. Mùa hoa tháng 1 - 2, mùa quả chín tháng 9 - 10.

Cây này có phân bố ở Lạng Sơn, người dân đem sang Trung Quốc bán với tên Sơn tra; (iv) Sơn tra (Docynia indica Wall.) được gọi dưới tên “Táo mèo”, mọc hoang và được trồng ở Lai Châu, Yên Bái, Sơn La, Lào Cai ở độ cao trên 1. Các thông tin mô tả trong tài liệu giúp phân biệt được 4 loài mang tên Sơn tra tại Việt Nam và Trung Quốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ