Tổng quan luận án
Hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Sau 10 năm triển khai Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam theo Kết luận số 41-KL/TW ngày 19/01/2006 của Bộ Chính trị và Quyết định số 386/QĐ-TTg ngày 09/03/2006 của Thủ tướng Chính phủ, ngành dầu khí đã đạt tổng sản lượng khai thác tích lũy trên 455 triệu tấn dầu quy đổi. Tuy nhiên, phần lớn các mỏ dầu khí có trữ lượng lớn đang ở giai đoạn suy giảm sản lượng sau thời kỳ khai thác cực đại.
Theo Báo cáo tổng kết giai đoạn 2006–2015 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), các mỏ dầu khí cận biên chiếm khoảng 75% đến 80% tổng số lượng mỏ đã phát hiện trên toàn thềm lục địa Việt Nam, tương đương khoảng 30% tổng trữ lượng phát hiện. Để thực hiện mục tiêu gia tăng trữ lượng hàng năm từ 35 đến 40 triệu tấn quy dầu và duy trì sản lượng khai thác 20 đến 25 triệu tấn quy dầu/năm theo Đề án tái cơ cấu PVN (Quyết định số 46/QĐ-TTg ngày 05/01/2013 và Quyết định số 1011/QĐ-TTg ngày 03/07/2015), việc khai thác các mỏ cận biên trở thành nhiệm vụ trọng tâm. Trong khi đó, bối cảnh thị trường ghi nhận sự sụt giảm mạnh của giá dầu thế giới từ tháng 10/2014, rơi xuống mức 27 USD/thùng vào đầu năm 2016. Các mỏ cận biên gặp nhiều rào cản về cơ sở hạ tầng phân tán, rủi ro nước sâu xa bờ và cơ chế chính sách tài chính chưa đủ sức khuyến khích nhà đầu tư.
Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về hiệu quả kinh tế trong khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam, cũng như thiếu vắng khung đánh giá đặc thù và các gói giải pháp cơ chế chính sách tổng thể cho loại hình mỏ này. Luận án "Nghiên cứu hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam" của nghiên cứu sinh Ngô Sỹ Thọ, chuyên ngành Quản lý kinh tế (Mã số: 62.10) tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất (Hà Nội, 2016), dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Nhâm Văn Toán và GS. TS Phan Huy Đường, được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu trên.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế khai thác dầu khí, từ đó đề xuất quan điểm, cơ chế chính sách và các giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm ba nội dung:
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong khai thác dầu khí.
- Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế trong khai thác một số mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam.
- Đề xuất các quan điểm, kiến nghị về chính sách và các giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển khai thác tại thềm lục địa Việt Nam thông qua ba dự án mỏ điển hình gồm cụm mỏ Chim Sáo + Dừa (Lô 12W, bể Nam Côn Sơn), mỏ Kình Ngư Trắng (Lô 09-2/09) và mỏ khí Báo Vàng (Lô 112).
- Phạm vi thời gian: Thu thập, phân tích dữ liệu thực tế từ năm 2005 đến năm 2016 và đề xuất các giải pháp định hướng đến năm 2025.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành phân loại và tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng nhóm chủ đề lý luận và thực nghiệm:
Về lý luận hiệu quả kinh tế quốc tế, tác giả phân tích bốn trường phái quan điểm:
- Trường phái đồng nhất hiệu quả kinh tế với kết quả đầu tư (doanh thu, tăng trưởng sản lượng) bắt đầu từ giữa thế kỷ 18 bởi Adam Smith và Ogiephric.
- Trường phái tiếp cận khả năng sử dụng hữu hiệu nguồn lực của Paul Samuelson và William D. Nordhaus trong tác phẩm "Kinh tế học" thập niên 1980.
- Trường phái so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra bổ sung và chi phí tiêu hao bổ sung của Gujarati Damodar (1998) trong "Basic Econometrics".
- Trường phái gắn kết hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội và môi trường của các nhà kinh tế K. Rusanop và L. Xôcôlinxi trong công trình "Đánh giá kinh tế tài nguyên khoáng sản".
Về nghiên cứu khai thác mỏ dầu khí cận biên quốc tế:
- Benny Lubiantara (2007) trong "The analysis of the marginal field incentive - Indonesia case" (Tạp chí Oil, Gas & Energy Law) phân tích các rào cản kinh tế và đề xuất các gói ưu đãi hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) tại Indonesia.
- Don Warlick (2007) trong "A new era for marginal oil production" (Tạp chí Oil & Gas Financial Journal) nghiên cứu các giếng cận biên tại Bắc Mỹ (sản lượng dưới 10 thùng/ngày đối với dầu và dưới 50 MCF/ngày đối với khí) cùng các yếu tố hỗ trợ giá và công nghệ.
- Akhigbe nghiên cứu chế độ tài chính của Nigeria ("How attractive is the Nigerian Fiscal Regime - which is intended to promote investment in marginal field development"), so sánh khung khuyến khích của Nigeria với Vương quốc Anh nhằm thúc đẩy mục tiêu gia tăng trữ lượng.
Về các công trình nghiên cứu trong nước:
- Giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Ngô Đình Giao (1984) với cuốn "Những vấn đề cơ bản về hiệu quả kinh tế trong xí nghiệp công nghiệp", cùng các nghiên cứu của Nguyễn Sĩ Thịnh, Lê Sĩ Thiệp, Nguyễn Kế Tuấn, Trương Đình Hẹ về hiệu quả kinh tế gắn với chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh.
- Giai đoạn kinh tế thị trường, các nghiên cứu chia thành ba hướng:
- Hướng 1: Hiệu quả kinh tế trong phân tích tài chính doanh nghiệp của Nguyễn Tấn Bình, Nguyễn Trọng Cơ (doanh nghiệp cổ phần phi tài chính), Phạm Đình Phùng (2000, ứng dụng mô hình toán), Nguyễn Ngọc Quang (2002, doanh nghiệp xây dựng).
- Hướng 2: Đánh giá hiệu quả kinh tế theo ngành hoặc theo yếu tố nguồn lực như Trương Đình Hẹ (hiệu quả lao động thương nghiệp), Nguyễn Thị Minh Tâm (hiệu quả sử dụng vốn ngành dệt), Phùng Thị Thanh Thủy (xí nghiệp thương nghiệp), Phạm Thị Thu Phương (ngành may mặc).
- Hướng 3: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích cho ngành khai khoáng như Phạm Thị Gái (1988, công nghiệp than), Huỳnh Đức Lộng (doanh nghiệp Nhà nước), Nguyễn Thị Mai Hương (khai thác sa khoáng Titan), và nghiên cứu hiệu quả ngành chế biến gỗ xuất khẩu Nam Trung Bộ.
- Các công trình chuyên ngành dầu khí và quản lý đầu tư: Hoàng Thị Đào, Ngô Mai Hạnh, Cù Thị Lan (2014) về các yếu tố tác động đến hiệu quả dự án Lọc dầu Dung Quất và Đạm Cà Mau; Phạm Kiều Quang (2015, Viện Dầu khí) về định hướng cơ chế chính sách phát triển mỏ cận biên; Vũ Thị Ngọc Lan (2014) về tái cấu trúc vốn tại PVN; Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2005) về đầu tư vốn ngân sách; Nguyễn Công Nghiệp (2009); Cấn Quang Tuấn (vốn xây dựng cơ bản Hà Nội); Trần Đình Thiên; Bùi Quang Vinh; Phương Anh; Minh Ngọc (hiệu quả đầu tư qua hệ số ICOR); TS Nguyễn Minh Phong về hệ thống giám sát đầu tư công.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chỉ dừng lại ở phân tích tài chính chung hoặc xem xét một số khía cạnh riêng lẻ của ngành lọc hóa dầu và cấu trúc vốn. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam, cũng như chưa xây dựng hệ thống giải pháp cơ chế chính sách kinh tế đồng bộ để đưa các mỏ dầu khí cận biên vào khai thác thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án tổng hợp các tiêu chí định nghĩa mỏ dầu khí cận biên trên thế giới:
- Vùng nước nông Vịnh Mexico (Mỹ): Trữ lượng thu hồi từ 3 đến 8 triệu thùng (0,46 - 1,2 triệu tấn).
- Canada: Trữ lượng thu hồi từ 4 đến 12 triệu thùng, tỷ suất thu hồi vốn (ROR) từ 12% đến 15%.
- Indonesia: Sản lượng khai thác bình quân trong 2 năm đầu không quá 10.000 thùng/ngày, toàn bộ chi phí thăm dò đã thu hồi (không còn chi phí chìm), tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) không quá 15%.
- Ecuador: Mỏ có sản lượng khai thác dưới 1% tổng sản lượng quốc gia.
- Bắc Mỹ: Giếng dầu có sản lượng không quá 10 thùng/ngày, giếng khí dưới 50 Mcf/ngày.
- Malaysia (Khoản 3 Luật Thuế thu nhập Dầu khí 2013): Mỏ có trữ lượng tiềm năng dầu thô không quá 30 triệu thùng hoặc trữ lượng khí không quá 500 tỷ bộ khối tiêu chuẩn.
- Hà Lan: Mỏ khí có trữ lượng dưới 4 tỷ mét khối.
- Vương quốc Anh: Mỏ có trữ lượng tối đa 20 triệu thùng dầu.
Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng định nghĩa mỏ cận biên tại Việt Nam: "Mỏ cận biên là phát hiện hoặc mỏ trong đó việc triển khai công tác phát triển hoặc tiếp tục khai thác theo các điều kiện tài chính, thương mại và công nghệ hiện tại không thể đem lại hiệu quả cho nhà đầu tư nhưng có thể đưa vào khai thác hiệu quả khi một trong các điều kiện trên được cải thiện."
Bảng dưới đây tổng hợp phân loại quy mô mỏ dầu khí theo trữ lượng:
| Loại mỏ |
Trữ lượng mỏ (tỷ thùng) |
Số lượng mỏ |
Đóng góp vào tổng trữ lượng (%) |
| Siêu khổng lồ |
> 10 |
25 |
40 |
| Khổng lồ |
> 0,5 |
338 |
40 |
| Lớn |
> 0,1 |
1.700 |
100 |
Nguồn: Luận án trích dẫn số liệu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Khung lý thuyết về hiệu quả kinh tế được luận án xác định theo công thức tương đối:
$$E = \frac{K}{C}$$
Trong đó $E$ là hiệu quả, $K$ là kết quả đầu ra theo mục đích, $C$ là chi phí sử dụng để tạo ra kết quả. Các chỉ tiêu tài chính định lượng gồm: Giá trị hiện tại thuần (NPV), Tỷ suất doanh lợi nội tại (IRR), Lợi nhuận tính cả đời mỏ (Full Cycle - FC), Lợi nhuận tính từ thời điểm hiện tại (Look Forward - LF), Chi phí đầu tư (Capex), Chi phí vận hành (Opex), thời gian hoàn vốn và phân tích độ nhạy.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:
- Phương pháp luận: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý chuỗi số liệu về sản lượng khai thác dầu khí, giá dầu, chi phí đầu tư và chi phí vận hành qua các giai đoạn.
- Phương pháp mô hình toán và phân tích tài chính: Thiết lập mô hình dòng tiền chiết khấu để tính toán NPV, IRR, điểm hòa vốn và phân tích độ nhạy trước các biến động của giá dầu, Capex, Opex, thuế xuất khẩu và tỷ lệ phân chia trong hợp đồng PSC.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế trên cơ sở 3 nghiên cứu điển hình (case studies).
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: So sánh hiệu quả giữa phương án phát triển độc lập và phương án kết nối mỏ vệ tinh; so sánh cơ chế ưu đãi của Việt Nam với Indonesia, Trung Quốc, Nigeria và Anh.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia quản lý và chuyên gia kỹ thuật trong ngành dầu khí.
Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản pháp luật, Nghị định, Thông tư, báo cáo chiến lược của Chính phủ và Bộ Công Thương.
- Dữ liệu sơ cấp: Số liệu địa chất, vỉa, trữ lượng dầu khí (báo cáo RAR, FDP, ODP), chi phí đầu tư, chi phí vận hành và số liệu phân chia sản phẩm từ PVN, PVEP và các nhà điều hành chung (JOC, JVPC).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương này hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu về hiệu quả kinh tế và khai thác mỏ dầu khí cận biên trong nước và quốc tế. Tác giả phân tích các khái niệm về hiệu quả từ thời kỳ cổ điển đến hiện đại, điểm qua các kinh nghiệm quản lý mỏ cận biên tại Indonesia, Bắc Mỹ, Nigeria và Anh. Đồng thời, chương 1 phân loại ba nhóm nghiên cứu trong nước về phân tích tài chính, hiệu quả kinh tế theo ngành và chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong khai khoáng. Qua đó, tác giả khẳng định việc nghiên cứu hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam là một đề tài độc lập, chưa có công trình trước đó nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên
Chương 2 trình bày bản chất kinh tế của mỏ dầu khí cận biên, các đặc điểm kỹ thuật và công nghệ khai thác ngoài khơi. Tác giả phân tích các giải pháp công nghệ giảm thiểu chi phí:
- Giàn khai thác siêu nhẹ và giàn cấu trúc tối thiểu (chân trụ đứng tự do cho độ sâu 15-24m; ống dẫn hướng nối giằng BWC cho độ sâu tới 43m; chân đế hai chân tựa tới 37m; giàn trụ ba chân đỡ tới 91m; giàn ống trụ bốn cọc đỡ từ 46m đến 91m; giàn Seastar TLP cho vùng nước sâu tới 1500m).
- Hệ thống thiết bị khai thác di động MOPU (chuyển đổi từ giàn khoan tự nâng như Nai Hia 1, Bo Hai 6 tại vịnh Beibu - Trung Quốc; giàn TPG500 mỏ Harding ở Biển Bắc).
- Hệ thống công nghệ nổi đa pha NOMAD kết hợp bơm Poseidon P300 ứng dụng tại mỏ Bekapai (Indonesia) và Bombay High (Ấn Độ).
- Phân loại thiết bị theo độ sâu nước: giàn cố định (100-200m), giàn tự nâng (<100m), tháp mềm (350-900m), tổ hợp FPSO và bán chìm (200-2100m), giàn neo đứng TLP (300-2500m), đầu giếng ngầm (2500m), giàn Spar (400-3000m).
Chương này cũng tổng kết kinh nghiệm áp dụng hợp đồng PSC và chính sách ưu đãi thuế của Trung Quốc, Indonesia, Nigeria để rút ra bài học cho Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng chính sách và hiệu quả kinh tế thông qua 3 dự án điển hình:
- Cụm mỏ Chim Sáo + Dừa (Lô 12W, bể Nam Côn Sơn): Thay vì phát triển độc lập với chi phí lớn, phương án kết nối mỏ Dừa vào cơ sở hạ tầng có sẵn của mỏ Chim Sáo (gồm giàn xử lý trung tâm và tàu FPSO) đã giúp giảm đáng kể chi phí Capex và Opex, cải thiện các chỉ số NPV và IRR của dự án.
- Mỏ Kình Ngư Trắng (Lô 09-2/09): Luận án so sánh ba phương án phát triển: (1) Phương án độc lập sử dụng giàn đầu giếng WHP kết hợp FPSO; (2) Phương án độc lập sử dụng MOPU kết hợp FSO; (3) Phương án lắp đặt giàn WHP kết nối về mỏ Rạng Đông của JVPC. Kết quả tính toán cho thấy phương án kết nối về cơ sở hạ tầng hiện hữu mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất và giảm thiểu rủi ro đầu tư.
- Mỏ khí Báo Vàng (Lô 112): Phân tích hiệu quả kinh tế, dòng tiền phân bổ doanh thu và kiểm định độ nhạy của dự án trước các biến số giá dầu, Capex, Opex và thuế xuất khẩu. Kết quả phân tích độ nhạy chỉ ra rằng khi giá dầu giảm xuống các ngưỡng thấp, dự án của PVEP chịu ảnh hưởng nặng nề, đòi hỏi phải điều chỉnh các điều khoản tài chính trong hợp đồng chia sản phẩm PSC mới có thể đạt điểm hòa vốn.
Đồng thời, tác giả chỉ ra các hạn chế trong cơ chế quản lý hiện hành của Việt Nam: biểu thuế tài nguyên dầu thô và khí chưa linh hoạt, tỷ lệ thu hồi chi phí và phân chia dầu lãi trong hợp đồng PSC chưa có khung riêng cho mỏ cận biên, hệ thống hạ tầng kết nối ngoài khơi còn thiếu đồng bộ.
Chương 4: Định hướng, quan điểm và giải pháp đảm bảo hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam
Chương 4 đưa ra các định hướng phát triển dựa trên các nghị quyết, quyết định của Chính phủ về ngành dầu khí. Tác giả xác lập quan điểm mới về việc đánh giá hiệu quả kinh tế: Nhà nước và nhà đầu tư cần chấp nhận mức sinh lời thấp hoặc mục tiêu hòa vốn để thu hồi chi phí chìm (sunk cost) tìm kiếm thăm dò, tận thu tài nguyên và tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có, phục vụ lợi ích tổng thể của quốc gia.
Chương này đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ rủi ro và giảm chi phí thăm dò, khai thác tại vùng nước sâu, xa bờ trên Biển Đông.
- Đổi mới công tác quản lý dự án phù hợp với mỏ cận biên: chuẩn hóa thiết kế, ứng dụng giàn siêu nhẹ (WHSS), MOPU, công nghệ kết nối ngầm và chia sẻ cơ sở hạ tầng giữa các lô hợp đồng lân cận.
- Cải thiện thị trường tiêu thụ và cơ chế giá cho các sản phẩm khí và dầu khai thác từ mỏ cận biên.
- Tăng cường quản trị rủi ro địa chất, tài chính và kỹ thuật trong hoạt động dầu khí.
Phần kiến nghị tập trung vào việc hoàn thiện khung pháp lý: sửa đổi Luật Dầu khí, điều chỉnh giảm thuế tài nguyên, tăng trần thu hồi chi phí trong hợp đồng PSC (tham khảo mẫu Lô 46/13 và Lô 09-2/09), và phân cấp quản lý cho PVN/PVEP.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án gồm:
Về mặt lý luận:
- Xác định tính đặc thù trong các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế đối với loại hình mỏ dầu khí cận biên trong điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Việt Nam.
- Thiết lập mô hình phân tích đánh giá ảnh hưởng đồng thời của nhiều nhân tố kỹ thuật, kinh tế, địa chất và thể chế chính sách tới hiệu quả kinh tế của dự án.
- Đưa ra quan điểm mới về tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế mỏ cận biên: Không chỉ giới hạn ở các dự án đạt mức sinh lời cao theo kỳ vọng thông thường của nhà đầu tư, mà cần mở rộng chấp nhận các dự án có hiệu quả kinh tế thấp hoặc hòa vốn nếu dự án đó giúp thu hồi chi phí tìm kiếm thăm dò đã bỏ ra (sunk cost), tận dụng cơ sở hạ tầng mỏ lân cận để tận thu tài nguyên và tạo điều kiện phát triển các cấu tạo tiềm năng lân cận vì lợi ích tổng thể của nước chủ nhà.
Về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Luận chứng cơ sở khoa học và thực tiễn chứng minh tính khả thi của phương án kết nối các mỏ cận biên vào cơ sở hạ tầng hiện hữu thông qua các nghiên cứu điển hình tại cụm mỏ Chim Sáo - Dừa và Kình Ngư Trắng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể bao gồm: đổi mới mô hình quản lý dự án; áp dụng công nghệ giàn siêu nhẹ, MOPU, hệ thống ngầm; đẩy mạnh liên doanh liên kết chia sẻ hạ tầng khai thác trên Biển Đông.
- Kiến nghị cụ thể với cơ quan quản lý Nhà nước về việc sửa đổi Luật Dầu khí, xây dựng quy chế riêng cho mỏ cận biên với các ưu đãi về thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu và điều chỉnh tỷ lệ chia sản phẩm dầu lãi trong hợp đồng PSC (như áp dụng tương tự Lô 46/13).
- Kiến nghị với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về nâng cao năng lực quản trị, tối ưu hóa danh mục đầu tư và xây dựng quy hoạch kết nối hạ tầng dùng chung tại các bể trầm tích.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án phản ánh một số giới hạn nghiên cứu:
- Dữ liệu phân tích thực nghiệm tập trung chủ yếu vào ba trường hợp nghiên cứu điển hình (cụm mỏ Chim Sáo + Dừa, mỏ Kình Ngư Trắng, mỏ Báo Vàng Lô 112) trên thềm lục địa Việt Nam.
- Các tính toán tài chính và phân tích độ nhạy chịu ảnh hưởng bởi biến động sâu của giá dầu thế giới trong giai đoạn 2014–2016 (mức đáy 27 USD/thùng).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi phân tích định lượng sang các phát hiện mỏ khí nước sâu, xa bờ và các mỏ dầu khí cận biên thuộc các bể trầm tích khác như Sông Hồng, Cửu Long, Malay - Thổ Chu.
- Nghiên cứu hoàn thiện các điều khoản mẫu cho hợp đồng PSC thế hệ mới và cơ chế đấu thầu quốc tế riêng biệt dành cho các lô dầu khí cận biên tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo trong các lĩnh vực quản lý kinh tế và công nghiệp dầu khí:
- Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ): Cung cấp luận cứ thực tiễn để sửa đổi, hoàn thiện Luật Dầu khí, biểu thuế tài nguyên và cơ chế ưu đãi đầu tư đối với tài nguyên khoáng sản biên giới hạn.
- Đối với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), PVEP và các nhà thầu dầu khí: Hỗ trợ phương pháp luận và số liệu tham chiếu trong việc lập báo cáo kế hoạch phát triển mỏ (FDP, ODP), lựa chọn phương án công nghệ (giàn siêu nhẹ, MOPU, kết nối mỏ vệ tinh) nhằm tối ưu hóa chi phí đầu tư và chi phí vận hành.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế tài nguyên - năng lượng: Cung cấp khung lý thuyết về phân tích hiệu quả kinh tế dự án khai thác tài nguyên, phương pháp phân tích độ nhạy và hệ thống tài liệu về kinh nghiệm quốc tế trong quản lý mỏ cận biên.
Câu hỏi thường gặp
1. Mỏ dầu khí cận biên được định nghĩa như thế nào trong luận án?
Luận án định nghĩa mỏ cận biên tại Việt Nam là phát hiện hoặc mỏ trong đó việc triển khai công tác phát triển hoặc tiếp tục khai thác theo các điều kiện tài chính, thương mại và công nghệ hiện tại không thể đem lại hiệu quả cho nhà đầu tư nhưng có thể đưa vào khai thác hiệu quả khi một trong các điều kiện trên được cải thiện.
2. Tỷ lệ mỏ dầu khí cận biên chiếm bao nhiêu trong cơ cấu tài nguyên dầu khí Việt Nam?
Theo số liệu tổng kết được trích dẫn trong luận án, mỏ dầu khí cận biên chiếm khoảng 75% đến 80% tổng số lượng mỏ phát hiện trên toàn thềm lục địa Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng trữ lượng dầu khí đã phát hiện.
3. Quan điểm mới của tác giả về tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế mỏ cận biên là gì?
Tác giả đề xuất không chỉ chú trọng các dự án có hiệu quả kinh tế cao mà cần chấp nhận cả những dự án có hiệu quả kinh tế thấp hoặc hòa vốn đối với nhà đầu tư, miễn là đạt được mục tiêu thu hồi chi phí tìm kiếm thăm dò đã bỏ ra (sunk cost), tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có để tận thu tài nguyên và phục vụ lợi ích tổng thể của đất nước.
4. Những giải pháp công nghệ khai thác nào được luận án nghiên cứu cho mỏ cận biên?
Luận án phân tích các giải pháp công nghệ gồm: giàn đầu giếng ngầm kết nối cơ sở hạ tầng sẵn có; các giàn cấu trúc siêu nhẹ/tối thiểu (chân trụ đứng, BWC, hai chân tựa, ba chân đỡ, Seastar TLP); hệ thống khai thác di động MOPU hoán cải từ giàn tự nâng; hệ thống khai thác nổi đa pha NOMAD kết hợp bơm Poseidon P300; và tàu chứa FPSO/FSO.
5. Luận án đã phân tích thực nghiệm hiệu quả kinh tế trên những mỏ cụ thể nào?
Luận án tiến hành phân tích số liệu thực tế trên 3 dự án điển hình: cụm mỏ Chim Sáo + Dừa (Lô 12W bể Nam Côn Sơn), mỏ Kình Ngư Trắng (Lô 09-2/09) và mỏ khí Báo Vàng (Lô 112).
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Ngô Sỹ Thọ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên, đồng thời xác lập định nghĩa và tiêu chí đánh giá phù hợp với điều kiện Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng tại ba mỏ điển hình (Chim Sáo - Dừa, Kình Ngư Trắng, Báo Vàng), công trình đã chỉ rõ các rào cản kỹ thuật, tài chính và cơ chế chính sách ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị đồng bộ nhằm đổi mới công tác quản lý dự án, ứng dụng công nghệ nhẹ và hoàn thiện khung pháp lý hợp đồng PSC, đóng góp thiết thực cho việc bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển ngành dầu khí Việt Nam.