phần Mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo, giải thích các thuật ngữ viết tắt, các bảng biểu, hình ảnh và đồ thị; Luận án bao gồm 4 chƣơng và Kết luận chung, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến Đề tài. Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên. Thực trạng hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam.
Định hƣớng, Quan điểm và giải pháp đảm bảo hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên tại Việt Nam. Kết luận chung. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc 1.
Các công trình đề cập đến hiệu quả kinh tế Các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế đã sớm đƣợc các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài đề cập, tiêu biểu là các loại quan điểm sau: Thứ nhất, quan điểm sớm nhất về hiệu quả kinh tế đó là sự đồng nhất hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu phản ánh kết quả của quá trình đầu tƣ. Quan điểm này bắt đầu phát triển từ giữa thế kỷ 18 bởi hai nhà kinh tế có cùng quan điểm là nhà kinh tế học ngƣời Anh - Adam Smith và nhà kinh tế học ngƣời Pháp - Ogiephric. Theo quan điểm này, hiệu quả chính là kết quả đạt đƣợc trong hoạt động kinh tế, đối với mỗi doanh nghiệp thì đó chính là doanh thu tiêu thụ hàng hóa, đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì đó là tốc độ tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội. Theo tác giả, quan điểm này đã có sự đồng nhất chỉ tiêu hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế, do đó việc đánh giá hiệu quả kinh tế thực chất chỉ là đánh giá kết quả thu đƣợc từ hoạt động kinh tế mà không quan tâm đến giá trị đầu tƣ để đạt đƣợc kết quả đó là bao nhiêu.
Rõ ràng đánh giá hiệu quả kinh tế qua kết quả sản xuất kinh tế theo trƣờng phái quan điểm trên là chƣa hoàn toàn hợp lý. Đôi khi, kết quả sản xuất kinh tế có thể phản ánh một phần hiệu quả đạt của quá trình sản xuất kinh tế. Tuy nhiên, kết quả sản xuất kinh tế không cố định mà có thể thay đổi do thay đổi chi phí đầu tƣ hoặc thay đổi việc sử dụng các nguồn lực. Hơn thế nữa, nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng ta lại có cùng một mức độ hiệu quả, nhƣng thực tế khi kết quả nhƣ nhau thì năm nào có chi phí thấp hơn hiệu quả sẽ đƣợc đánh giá cao hơn.
Do đó, tác giả cho rằng nếu đánh giá hiệu quả kinh tế theo quan điểm này thì sẽ không thể phân biệt đƣợc kỳ kinh tế nào có hiệu quả hơn. 9 Thứ hai, quan điểm của hai nhà kinh tế học hiện đại - Paul Samuelson và William D’Nordhau: hiệu quả kinh tế phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Quan điểm của họ đƣợc trình bày trong cuốn “Kinh tế học” xuất bản vào những năm 80 của thế kỷ XX, trong cuốn sách này hai ông đã nêu quan điểm: Hiệu quả kinh tế là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con ngƣời [66]. Quan điểm này cho thấy, muốn xác định hiệu quả kinh tế thì cần phải đánh giá sự tiết kiệm hay lãng phí các nguồn lực sử dụng trong quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh tế và việc đánh giá này là hoàn toàn có thể xác định đƣợc.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nên sử dụng nhƣ thế nào để đƣợc xem là hữu hiệu nhất vẫn đang còn là một tiêu chuẩn mang tính chất trừu tƣợng, bản thân doanh nghiệp cũng rất khó lƣợng hóa đƣợc vì nó chỉ mới dừng lại ở khả năng vận dụng nguồn lực đầu vào chứ không đề cập đến các kết quả đầu ra và mối quan hệ vận động tƣơng quan giữa chúng. Nhƣ vậy, theo tác giả, nếu vận dụng quan điểm này trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp sẽ không có một mức chuẩn cụ thể để đánh giá việc sử dụng nguồn lực hữu hiệu nhất phải bằng bao nhiêu. Thứ ba, một trƣờng phái khác cũng phát triển cùng lúc với trƣờng phái trên, quan điểm này cho rằng hiệu quả kinh tế là sự so sánh tƣơng quan giữa kết quả đầu ra và các chi phí đã phát sinh trong quá trình sản xuất kinh tế. Tƣơng tự với quan điểm đó, tác giả Gujaratu Damodar (1998), trong Basic econometrics, Third edition, FETP [62]: hiệu quả kinh tế bằng cách so sánh tƣơng quan giữa kết quả đạt đƣợc bổ sung (phần tăng thêm) và chi phí tiêu hao bổ sung.
Mặc dù cũng đã đề cập đến bản chất của hiệu quả là trình độ sử dụng chi phí, nhƣng quan điểm của tác giả này mới chỉ dừng lại ở mức độ xem xét sự bù đắp chi phí bỏ ra tăng thêm trong quá trình sản xuất kinh tế. Nhƣ vậy, tác giả cho rằng, mặc dù đã có ƣu điểm hơn so với hai trƣờng phái quan điểm trên, nhƣng trƣờng phái quan điểm này vẫn còn nhƣợc điểm, đó chính là họ chỉ mới đề cập đến chi phí thực tế phát sinh mà bỏ qua mối liên hệ giữa chi phí với nguồn lực đầu vào của chi phí đó. Rõ nét nhất có thể kể 10 đến yếu tố chi phí về lao động, khi tính hiệu quả sử dụng lao động thì chi phí thực tế của nó là số ngày làm việc, số giờ làm việc, tiền lƣơng (hoặc thù lao lao động)., còn nguồn lực lại đƣợc biểu hiện qua số lƣợng lao động. Thứ tư, quan điểm hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp là sự gắn kết giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, quan điểm này đã đƣợc phát triển từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX.
Công trình “Đánh giá kinh tế tài nguyên khoáng sản” tác giả K. Rusanop đã trích dẫn quan điểm của một số nhà kinh tế Cộng hòa Liên bang Nga nhƣ L. Xôcôlinxi: hiệu quả kinh tế là một bộ phận quan trọng nhất của toàn bộ chiến lƣợc kinh tế, và chỉ ra rằng để giải quyết các nhiệm vụ kinh tế - xã hội hiện nay không có con đƣờng nào khác là tăng nhanh hiệu quả của nền sản xuất xã hội [63], Đánh giá kinh tế tài nguyên khoáng sản. Quan điểm này đã phản ánh đƣợc mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế không chỉ là sự so sánh giữa kết quả sản xuất với chi phí sản xuất, mà còn biểu hiện cả sự tƣơng quan về lƣợng và chất giữa kết quả và chi phí.
Hơn thế nữa, hiệu quả kinh tế đƣợc đánh giá qua sự tổng hợp nhiều chỉ tiêu kinh tế khác nhau trong quá trình sản xuất, đồng thời doanh nghiệp sản xuất kinh tế càng hiệu quả thì hiệu quả xã hội sẽ càng tăng. Tuy nhiên, trong một vài trƣờng hợp, để tăng hiệu quả kinh tế, doanh nghiệp lại làm ảnh hƣởng mạnh đến hiệu quả xã hội (nhƣ gây ô nhiễm môi trƣờng trầm trọng). Các công trình về hiệu quả kinh tế khai thác mỏ dầu khí cận biên - Benny Lubiantara (2007), The analysis of the marginal field incentive - Indonesia case. Tạp chí Oil, Gas & Energy Law.
[73] Bài viết cho biết, trong nhiều năm qua, hoạt động sản xuất dầu khí của Indonesia đã liên tục suy giảm. Chính phủ Indonexia (GOI) đã có nhiều nỗ lực rộng lớn để tìm cách để cải thiện tốc độ khai thác và các mỏ dầu khí cận biên đã đƣợc coi là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao tốc động và trữ lƣợng khai thác. Chính phủ Indonesia (GOI) đã nhận ra rằng có rất nhiều mỏ dầu khí cận biên chƣa phát triển trong các khu vực của các nhà thầu làm; lý do mỏ dầu khí cận biên không đƣợc phát triển chỉ đơn giản là kinh tế. Theo các điều khoản và điều kiện kinh tế hiện tại, các mỏ dầu khí cận biên không 11 đủ để đƣợc phát triển.
Chính phủ Indonesia tiến hành nghiên cứu một số mỏ dầu khí cận biên để xác định tốt nhất các ƣu đãi và chính sách khai thác. - Don Warlick (2007), A new era for marginal oil production, Tạp chí Oil & Gas Financial Journal. [68] Theo tác giả Don Warlick, một giếng dầu đƣợc gọi là cận biên khi sản xuất không quá 10b/d và khí đốt tự nhiên biên cũng ít hơn 50 MCF/d. Các giêng dầu đƣợc coi là cận biên cũng bởi vì tính lợi nhuận của chúng không hấp dẫn.
Tuy nhiên, từ tháng 12 năm 2006, trƣớc kỳ hạn dầu tháng là gần 60 USD/ thùng đối với dầu và 7 USD/ MCF khí, các mỏ dầu khí cận biên ở Bắc Mỹ đã đƣợc chú trọng khai thác với sự hỗ trợ về giá sản phẩm đầu ra và việc áp dụng các công nghệ khai thác mới hiệu quả hơn. Bài viết này chỉ tập trung nghiên cứu các mỏ dầu khí cận biên trong sản xuất Bắc Mỹ, và sự hấp dẫn tiềm năng cho các nhà sản xuất / nhà đầu tƣ. How attractive is the Nigerian Fiscal Regime - which is intended to promote investment in marginal field development. Akhigbe, dự trữ dầu khí hiện nay của Nigeria là 35,9 tỷ thùng, trong đó, nƣớc này hiện đang sản xuất 2,4 triệu thùng dầu mỗi ngày, dự kiến Nigeria sẽ bị cạn kiệt trong thời gian 33 năm.
Là quốc gia mà thu nhập phụ thuộc nhiều vào việc khai thác dầu mỏ, thật dễ hiểu khi chính phủ Nigeria đã khởi xƣớng một chính sách nhằm thúc đẩy lƣợng dự trữ đạt 40 tỷ thùng vào năm 2010. Một trong những phƣơng pháp để đạt đƣợc mục tiêu này là sự phát triển các ƣu đãi cho các mỏ dầu mỏ cận biên. Cách tiếp cận này có thể tạo ra 300 triệu thùng dầu dự trữ hiện có. Chế độ tài chính cho các mỏ cận biên với nhiều ƣu đãi của Nigeria đã ảnh hƣởng lớn đến sự thành công của mục tiêu của chính phủ.
Bài báo đã so sánh các phƣơng pháp tiếp cận chế độ tài chính dầu khí của Nigeria và Vƣơng quốc Anh, qua đó lên kế hoạch để xác định tính hấp dẫn của chế độ tài chính Nigeria của liên quan đến đầu tƣ phát triển khai thác các mỏ dầu khí cận biên. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Tuỳ theo phƣơng pháp tiếp cận, các nhà khoa học trong nƣớc cũng đã trình bày những quan điểm khác nhau khi nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế.