Chương 1. Giới thiệu đề tài Chương 2. Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả hoạt động của ngân hàng Chương 3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5. Kết luận và hàm ý chính sách CHUONG 2. TONG QUAN LÝ THUYÉT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VẺ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng 2.1 Khái niệm hiệu quả của ngân hàng thương mại Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Theo Samerelson và Nordhaus thì: “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Thực chất của quan điêm này đã đề cập đến khía cạnh phân bồ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Việc phân bể và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao. Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chỉ phí bỏ ra để có được kết quả đó.
Điển hình cho quan điêm này là Manfred Kuhn, theo đó: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lây kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chỉ phí kinh doanh”. Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vảo tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế. Quan điểm này chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào. Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa.
Do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm tra hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhất dé đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa. Với tư cách là một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi hoạt động của toàn doanh nghiệp, mà còn sử dung dé đánh giá trình độ sử dụng của từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu. Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra đối với bat kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nao.
4 Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế. Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị. Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. “Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg.) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu.) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật”, “Mối quan hệ tỷ lệ giữa chỉ phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chỉ phí kinh doanh thực tế phải chỉ ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị” và “Đề xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tô đầu vào tính bằng tiền”.
Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phi. Quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu có thé xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguôn số liệu, do vậy quan điểm về hiệu quả mà luận văn sử dụng đề đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, thể hiện là khả năng biến các đầu vào thành các đầu ra trong hoạt động kinh doanh của NHTM.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2.1 Phương pháp đánh giá truyền thống: a, Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời: Các chỉ tiêu quan trọng nhất đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng hiện nay gồm tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (@ÑIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NOM), tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên (TNHĐB), hệ số thu nhập trên cổ phiếu (EPS). Mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lời được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau.
ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, chỉ ra khả năng của ngân hàng trong quá trình chuyển tải sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Ngược lại, ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hang, thé hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên là các 5 thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời. Chúng chỉ ra năng lực trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chỉ phí (chủ yếu là chỉ phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi).
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chỉ phí thấp nhất. Trái lại, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chỉ phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chỉ phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và chỉ phí tôn thất tín dụng). Một biện pháp đo lường hiệu quả chỉ tiêu thu nhập truyền thống khác mà các nhà quản lý sử dụng điều hành ngân hàng là chênh lệch lãi suất bình quân (hay chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra), được tính như sau: Tỷ lệ chênh lệch lãi suất bình quân = Thu từ lãi/Tổng tai sản sinh lời — Tổng chi phí trả lãi/Tổng nguồn vốn phải trả lãi. Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả đối với hoạt động trung gian của ngân hàng trong quá trình huy động vốn và cho vay, đồng thời nó cũng đo lường cường độ cạnh tranh trong thị trường ngân hàng.
Sự cạnh tranh gay gắt có xu hướng thu hẹp mức chênh lệch lãi suất bình quân. Ngoài những chỉ tiêu trên còn có các chỉ tiêu khác như: thu nhập cận biên trước những giao dịch đặc biệt NRST). tỷ lệ tài sản sinh lời, tỷ lệ sinh lời hoạt động (NPM), ty 1é hiéu qua su dung tai san (AU). Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh, các nhà quản lý có thể vận dụng trong những trường hợp riêng cho phủ hợp.
b, Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro: Các chỉ tiêu phản ảnh rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất.) bổ sung cho các chỉ tiêu phản ánh sinh lời nhằm phản ánh đầy đủ kết quả kinh doanh của ngân hàng trong một thời kỳ như: - Nợ có vấn đề/Dư nợ - No qua han/Du no - No qua han /Vốn chủ sở hữu - _ Ngân quỹ/Nguồn ngắn hạn -_ Tài sản nhạy cảm/Nguồn vốn nhạy cảm -_ Nợ/Vốn chủ sở hữu Nếu ngân hàng theo đuổi các khoản đầu tư mạo hiểm, có thể tỷ lệ sinh lời hiện tại sẽ cao hơn. Tuy nhiên, nếu tổn thất xảy ra (thường qua một thời gian nhất định), sinh lời của ngân hàng sẽ giảm sút, thậm chí có thể ngân hàng sẽ bị phá sản. Do vậy, thời kỳ này rủi ro cao có thê gây ra tồn thất kỳ sau, làm giảm khả năng sinh lời kỳ sau. Tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu cảng cao, tỷ lệ sinh lời ROE càng lớn, song khả năng chống đỡ với những tốn thất của ngân hàng càng kém.
Tỷ lệ Tài sản nhạy cảm/Nguồn vốn nhạy cảm phản ánh rủi ro lãi suất khi lãi suất thay đôi theo hướng bất lợi cho ngân hàng. Tuy nhiên, khi lãi suất thay đôi theo hướng có lợi hoặc không thay đổi, thu nhập của ngan hang sé gia tang. c, Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng: Điên hình của hoạt động trong ngân hàng là hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau và là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ thích nghỉ của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hang trong qua trình cạnh tranh để tồn tại. Chất lượng tín dụng được đánh gia theo mot số chỉ tiêu cơ bản sau: Tỷ lệ nợ quá hạn: là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của NHTM ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.
Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn (khả năng hoản trả của người vay) là yếu tố quan trọng bậc nhất để cầu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay không được hoàn trả đúng hẹn như đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng quan trọng nhất của ngân hàng và nó bị chuyền sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất thông thường.