ĐẶT VẤN ĐỀ Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái rừng Việt Nam nói riêng và của hệ sinh thái rừng nhiệt đới nói chung, là nguồn thu nhập đáng kể của người dân. Nhiều địa phương ở miền núi, nguồn thu từ LSNG chiếm từ 10 - 20% trong tổng thu nhập kinh tế hộ gia đình, chủ yếu là nguồn lương thực, thực phẩm và thuốc chữa bệnh đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày. LSNG không những góp phần cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, chế biến lâm sản mà còn đóng góp tích cực cho nền kinh tế quốc dân thông qua các mặt hàng xuất khẩu. Hàng năm, kim ngạch xuất khẩu 8 mặt hàng LSNG chủ yếu ngày một tăng: năm 2007 đạt 219 triệu USD, năm 2008 đạt 250 triệu USD, năm 2010 đạt 255 triệu USD, năm 2011 đạt hơn 380 triệu USD [4].
Ngoài ra, LSNG còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng, làm tăng giá trị kinh tế của rừng góp phần khôi phục, nâng cao giá trị của các khu rừng nghèo. Hơn nữa, việc khai thác LSNG thường ít ảnh hưởng đến cấu trúc tầng cây gỗ, vẫn giữ được vai trò bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học của rừng. Để quản lý, sử dụng và phát triển tài nguyên rừng một cách bền vững, đồng thời vừa nâng cao thu nhập cho người dân từ chính diện tích rừng của mình thì việc gây trồng, phát triển LSNG là một trong những giải pháp hữu hiệu đã được thực tế chứng minh. Trong những năm gần đây, Bộ NN&PTNT cũng như Chính phủ đã ban hành một số chính sách khuyến khích việc gây trồng và phát triển LSNG, cụ thể như đề án bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006 - 2020, kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2007 - 2010.
Đặc biệt, ngày 09/01/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 57/QĐ-TTg về phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng 2 giai đoạn 2011 - 2020. Theo quyết định này, việc chú trọng gây trồng và phát triển LSNG ở tất cả các loại rừng là một trong những nhiệm vụ ưu tiên, đây là một hướng đi giúp người dân sống được bằng nghề rừng, gắn bó với rừng hơn. Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh là Di sản thiên nhiên thế giới. Mặc dù lượng du khách đến thăm quan vịnh hàng năm rất đông, nhưng ít người biết rằng, ngoài vẻ đẹp của của các đảo và cỏ cây, hoa lá trên đó, vịnh Hạ Long còn có nguồn lợi rất phong phú về đa dạng sinh học các loài cây LSNG và tiềm năng nguồn lợi sinh vật.
Sự phong phú về đa dạng cây LSNG của vịnh Hạ Long không chỉ thể hiện ở cấp độ nguồn gen, cấp độ loài mà còn cả ở cấp hệ sinh thái như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái bãi triều cát, hệ sinh thái bãi triều đáy đá, hệ sinh thái rạn san hô… của một vùng biển ven bờ nhiệt đới. Tuy nhiên, Quảng Ninh là một đỉnh của tam giác kinh tế (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) đang phát triển rất năng động về mọi mặt trong thời gian gần đây nên chịu nhiều sức ép về mọi mặt như gia tăng dân số, giao thông, cảng, du lịch, nuôi trồng và khai thác thuỷ sản. Vì vậy, các hệ sinh thái trên đã bị tác động mạnh mẽ trong những năm gần đây. Với những lý do trên, vùng vịnh Hạ Long - Cát Bà đã được chọn làm điểm trình diễn của nhiều dự án quốc gia và quốc tế như SAREC/SIDA/MOSTE/HIO (pha I, II và III), Dự án “Nghiên cứu quản lý môi trường vịnh Hạ Long” của JICA/MOSTE/UBND tỉnh Quảng Ninh do Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng thực hiện, các đề tài trong Chương trình biển như KT0311 (1991 - 1995), KHCN 06-07 (1996 - 2000), Dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học vịnh Hạ Long” do EU tài trợ, các đề tài, dự án đánh giá về tiềm năng du lịch, bảo tồn… 3 Để góp phần bảo tồn và phát triển bền vững các loài LSNG ở các hòn đảo trên vịnh Hạ Long, đồng thời nâng cao nhận thức cũng như đời sống cho cộng đồng người dân địa phương, việc thực hiện: “Nghiên cứu hiện trạng các loài cây Lâm sản ngoài gỗ trên các đảo thuộc vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” là cần thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn sản xuất, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ Trước đây những loài cây trong rừng không phải là gỗ thường được gọi là lâm sản phụ, một số loài có giá trị đặc biệt gọi là đặc sản. Ngày nay thống nhất gọi các sản phẩm không phải là gỗ có ở trong rừng là lâm sản ngoài gỗ.
Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ là một khái niệm tương đối mới so với gỗ. Các khái niệm chủ yếu do FAO đưa ra ở trên đều chưa hoàn thiện, năm 1999, hội nghị của FAO lại đưa ra một khái niệm ngắn gọn về Lâm sản ngoài gỗ: “Lâm sản ngoài gỗ (non timber forest product - NTFP, hoặc Non wood forest products - NWFP) bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, và từ cây gỗ ở ngoài rừng” (dẫn theo Triệu Văn Hùng, 2007) [11]. Phân loại Lâm sản ngoài gỗ Lâm sản ngoài gỗ rất đa dạng, phong phú và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Do vậy, việc phân loại có nhiều quan điểm khác nhau.
Theo quan điểm hiện nay, Lâm sản ngoài gỗ được phân làm hai dạng chủ yếu sau: - Phương pháp phân loại theo hệ thống sinh: Theo phương pháp phân loại này thì các loại LSNG được phân theo hệ thống tiến hóa của sinh giới bao gồm hai nhóm chính: động vật và thực vật. Giới động vật và giới thực vật tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới/Ngành/Lớp/Bộ/Họ/Chi/Loài. Có thể thấy phân loại theo phương pháp này đòi hỏi phải chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của loài và người sử dụng phải có hiểu biết nhất định về phân loại động thực vật. 5 - Phương pháp phân loại Lâm sản ngoài gỗ theo nhóm giá trị sử dụng: Hội nghị Quốc tế tháng 11/1991 tại Bangkok đã chia LSNG làm 6 nhóm (dẫn theo Triệu Văn Hùng, 2007) [11]: + Nhóm 1.
Các sản phẩm có sợi: bao gồm tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ; + Nhóm 2. Sản phẩm làm thực phẩm: gồm các sản phẩm có nguồn gốc thực vật như thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa… Các sản phẩm có nguồn gốc động vật như mật ong, thịt động vật rừng, trứng và côn trùng…; + Nhóm 3. Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật; + Nhóm 4. Các sản phẩm chiết xuất: nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, ta nanh, dầu béo, tinh dầu; + Nhóm 5.
Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ, động vật sống, chim, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ; + Nhóm 6. Các sản phẩm khác. Các nghiên cứu về vai trò và tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ - Về công dụng và tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ: Số lượng các sản phẩm từ Lâm sản ngoài gỗ được coi là rất lớn. Theo báo cáo của tổ chức Liên Hiệp Quốc và FAO (1995) cho thấy ít nhất 150 sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ được tìm thấy trong các thị trường quốc tế.
Chẳng hạn chỉ riêng về năng lượng được biết tới 138 sản phẩm từ 80 loài trong rừng trên bán đảo Michigan [20]. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đã thu hút sự chú ý hơn tới Lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là nguồn thực phẩm thay thế. Một nghiên cứu gần đây tiến hành tại ba cộng đồng ở miền Nam Cameroon tiết lộ rằng nông nghiệp cung cấp 80% lượng carbohydrate, nông thôn ở Cameroon nhận được 90% protein từ rừng. Trái cây rừng và thảo dược là nguồn cung cấp vitamin và chất dinh dưỡng cho cư dân nông thôn.
Hàng triệu người dân Châu Á phụ thuộc phần lớn vào sự cung cấp cá từ rừng ngập mặn. 6 Ngoài ra, lâm sản ngoài gỗ cũng ngày càng được thừa nhận về vai trò của nó trong phát triển bền vững và bảo tồn các hệ sinh thái. Có đến 80% dân số ở các nước đang phát triển sống phụ thuộc vào Lâm sản ngoài gỗ cho sinh hoạt, cả về kinh tế và dinh dưỡng. Lâm sản ngoài gỗ đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ ở các nước đang phát triển từ châu Mỹ Latinh đến châu Á và châu Phi (FAO, 1997) [20].
Nguồn tài nguyên dược liệu được biết đến là rất phong phú và đa dạng. Số liệu của IUCN/TRAFFIC/WWF về cây thuốc và cây có chất thơm trên toàn thế giới lên tới 40.500 loài được mua bán rộng rãi trên toàn thế giới; ở Châu Âu có khoảng 2.000 loài cây thuốc được sử dụng vào mục đích thương mại. Thống kê của IUCN (2005) cũng cho thấy khoảng 4.000 loài cây thuốc và cây có chất thơm trên thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng và chỉ có một vài trăm loài đang được gây trồng (Châu Âu 130 - 140 loài, trong khi đó đã có khoảng 2.000 loài được sử dụng với mục đích thương mại); khoảng 70% số loài có nguồn gốc từ các loài hoang dã (dẫn theo Nguyễn Huy Sơn, 2011) [13]. Theo báo cáo của FAO (1996) [21], tại Bhutan và Thái Lan có hơn 300 loài cây thuốc, hệ thống y học cổ truyền ở đây được hành nghề rộng khắp.
Ở phía nam, với kiến thức gia truyền được truyền lại từ đời cha sang con trai. Viện y học cổ truyền đã kết hợp giữa châm cứu và sử dụng cây dược liệu để chữa nhiều loại bệnh nhanh chóng trở nên phổ biến mặc dù bệnh viện hiện đại có cung cấp nhiều dịch vụ miễn phí. Theo báo cáo của FAO (1995) [20] về nguồn tài nguyên Mây, thế giới có khoảng 600 loài thuộc 13 chi trong các rừng nhiệt đới vùng đất thấp ở đông bán cầu. Hầu hết các loài có phạm vi phân bố rất hạn chế trong tự nhiên, từ sát mực nước biển tới độ cao 3.
Trong số 13 chi được biết đến có 10 chi với khoảng 574 loài được tìm thấy ở Đông Nam Á và các vùng lân cận, từ 7 Fiji tới tiểu lục địa Ấn Độ, và từ miền Nam Trung Quốc đến Queensland ở Úc. Đông Nam Á được coi là trung tâm đa dạng sinh học của song mây.