Mở đầu, người viết tự nhận “đối với văn xưa tôi còn quá ư lạo thảo, đâu dám đi bình duyệt văn người”, rồi bằng “kiến văn sơ lậu” của mình, Nhữ Bá Sĩ chỉ ra “ba điều đáng lấy”, “bảy điều đáng bàn” của tác phẩm, cuối cùng khẳng định lại học thức của bản thân và khuyến khích tác giả cố gắng hơn nữa: “Với sự kém cỏi của tôi mà dám khen chê bàn bạc văn người e rằng ngoài sân mua cười, lại thêm một chữ ‘cười’ nữa. Nhưng tôi muốn bậc quân tử mở rộng lòng tới điều quý báu nhất, hay gắng sức vượt trèo, bơi lội kiếm tìm trong các đại gia, dốc hết tinh thần truy cứu, có lúc sẽ nắm được nó, rồi dần dà mới biết: bừng tỉnh cái gốc, gắp lại cái nguồn, thì hạt trai như núi, hạt ngọc như bể, đầy dẫy trước mặt ta. Còn cái mà tôi nói ra, chẳng qua chỉ nhỏ nhặt như một mảnh ngọc trong vẩy con ly long, đáng kể vào đâu” [93, tr. Không chỉ chừng mực trong cách phê bình tác phẩm của người khác, nhà nho còn coi đó là một trong những tiêu chí thẩm mỹ của văn học nghệ thuật nói chung.
Khổng tử phê phán âm nhạc của các nước Trịnh, Tống, Vệ, Tề vì bốn loại này đều là “nịch âm” (âm thanh say đắm), gây ảnh hưởng đến chí: “Ca nhạc nước Trịnh vì hiếu lạm nên làm cho chí dâm, ca nhạc nước Tống vì say đắm nữ sắc nên làm cho chí đắm đuối, ca nhạc nước Vệ vì quá gấp gáp, dâm dật nên làm cho chí rối loạn, ca nhạc nước Tề vì quá phóng túng nên làm cho chí kiêu” (Nhạc ký, dẫn theo [37, tr. Trái lại, Khổng tử coi trọng Kinh thi bởi sự “ôn nhu đôn hậu” của ba trăm bài thơ này, bởi “Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán” (Thi có thể lay động lòng 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người bằng tình cảm dạt dào; có thể dạy cách xem xét nhân tình; có thể tập hợp mọi người, tạo dựng sự đồng tâm; có thể bộc lộ nỗi oán thán) nhưng vẫn “ai nhi bất thương, lạc nhi bất dâm” (buồn mà không bi luỵ, vui mà không phóng túng). Noi gương Khổng tử, các nhà nho đời sau đề cao thứ văn chương trung hậu, vừa “phát hồ tình” (xuất phát từ tình cảm tự nhiên của con người) vừa “chỉ hồ lễ nghĩa” (dừng lại ở lễ nghĩa), coi trọng những tác phẩm vừa giữ được sự chân thành trong xúc cảm, vừa sâu sắc về tư tưởng, lại diễn đạt những điều đó bằng ngôn từ thanh nhã, mực thước. Đồng thời, nhà nho chủ trương: “Vi văn bất tác khinh bạc ngữ” (Làm văn không viết lời khinh bạc) và cực kỳ phản đối những tác phẩm không giữ được sự ôn nhu đôn hậu, xa rời lễ nghĩa, giáo hoá.
Ngay cả những thi hào nổi tiếng trong văn học Trung Hoa như Đào Tiềm, Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Nguyên Thận, theo họ, vẫn có chỗ đáng phàn nàn, bởi các tác gia này thiếu tiết chế trong việc bộc lộ cảm xúc: “Đào tạm gần với sự đúng đắn, Khuất hơi quá về bi phẫn, Đỗ hơi thừa về cùng sầu, Lý phóng đãng mà buông thả, Bạch thất chí mà cao ngạo, Nguyên thì thấp hơn thế. Đó là những điều sĩ đại phu thẹn thùng khi phải nói tới” [22, tr. Thừa nhận Tiền Xích bích phú và Hậu Xích bích phú là “những áng văn bậc nhất trên tao đàn kim cổ”, nhưng Ngô Thì Chí vẫn không coi tác phẩm của Tô Đông Pha là thứ “văn có gốc”, vì “Ở bài phú trước, tấm lòng thưởng thức sông nước và trăng có vô vàn cảm khái, ý tứ xem ra cởi mở, phóng khoáng, không quy tụ về chỗ nào cả. Bài phú sau đắc ý ở chỗ giác ngộ về tiên nhưng tinh thần phiêu du, tình cảm rong ruổi ở nơi ngoài giáo hoá, cái tâm ấy càng thêm phóng đãng.
Em tiếc cho sự học ấy rơi vào chỗ tài tử, không thể làm khuôn phép cho nhà nho” [20, tr. Trao đổi lại với em, Ngô Thì Nhậm cũng bày tỏ mối lo ngại về những kẻ sĩ khinh bạc như Phạm Nguyễn Du, Trần Tử: “Văn chương của Thạch Động như thuyền không lái, ngựa bất kham, khí phách sắc sảo, lời lẽ hùng hồn, nhưng không có cốt cách vững chắc. Bản chất và tâm tính của ông cũng thế. Vì vậy, gọi là kẻ sĩ giỏi văn thì được, chứ gọi là kẻ sĩ ‘bác văn ước lễ’ thì không được.
Đây là chỗ nguồn gốc thầy bạn của Trần Tử, cứ đi theo đà ấy mà đi, sẽ trở thành con người ‘cuồng giản’ như Khổng tử đã nói; đến cuối cùng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sẽ là người đem thuật Lão tử đứng vào chỗ thời nghĩa của Khổng Mạnh và danh lý của Trình, Chu. Thiên hạ mắc vạ không nhỏ” [93, tr. Yêu cầu của nhà nho về sự chừng mực, có mức độ thể hiện rõ nhất ở cách họ đánh giá các nhân vật văn học. Phan Tất Chánh (Phan Trần) và Thuý Kiều (Đoạn trường tân thanh) bị đưa vào lời răn dạy “Đàn ông chớ kể Phan Trần, Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thuý Kiều” một phần là vì những nhân vật này đã để cho tình cảm bộc lộ quá cuồng nhiệt, quá say đắm: Phan sinh vì quá nhớ thương người yêu mà toan tự tận, còn Thuý Kiều dám “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” để sang nhà Kim Trọng.
Có thể thấy, việc đòi hỏi sự trung hậu, thuần chính, có mức độ của văn học nghệ thuật đã ảnh hưởng rất lớn đến cách phê bình của nhà nho. Bên cạnh đó, một tác phẩm hay theo quan điểm của Nho giáo còn phải biết cân bằng, hài hoà giữa “văn” (hình thức) và “chất” (nội dung). Mọi sự thái quá đều không tốt, như Khổng tử đã khẳng định: “Chất thắng văn tắc dã, văn thắng chất tắc sử” (Chất phác quá, thiếu văn vẻ thì quê mùa, thô kệch; còn văn vẻ quá, thiếu chất phác thì chỉ là những lời nói suông, sáo rỗng). Cái bản chất cũng là cái phù hợp với đạo, nên không cần tô vẽ vẫn đẹp, bởi vậy, “từ đạt nhi dĩ hĩ” (Lời nói diễn đạt được nội dung là đủ), không nên trau chuốt, gọt giũa quá mức, vì nó sẽ làm mất đi sự chân xác, thành thực, tự nhiên của tác phẩm.
Sau này, Ngô Thì Nhậm cũng bàn: “Thơ mà quá cầu kỳ thì sa vào giả dối, quá trau chuốt thì sa vào xảo trá, hoang lương hiu hắt thì phần nhiều sa vào buồn bã. Chỉ có thuần hậu, giản dị, thẳng thắn không giả dối, không xảo trá, không buồn bã mà rốt cuộc chú trọng đến sự ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay, mới là những đặc sắc chính của thơ” [93, tr. Do đó, một trong những lý do khiến Nguyễn Du đánh giá cao tập thơ Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định chính là vì các bài thơ được viết một cách tự nhiên, không cầu kỳ đẽo gọt: “bất tá điêu khắc” (không cần tỉa tót), “bất tại sưu sách” (chẳng phải do người viết dụng công tìm tòi), “cú pháp hữu lực, bất tại dụng lực” (câu thơ có lực nhưng không phải dùng đến lực) (Dẫn theo [62, tr.562-583])… Quan niệm như thế nên nhà nho bày tỏ mối ác cảm với thứ văn chương phù hoa, lả lướt, thiếu nội dung, sáo rỗng, 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như lời than phiền của Vũ Khâm Lân, Phạm Đình Hổ về văn học cuối đời Lê: “Kỳ dị thay cái gọi là văn chương thời bây giờ! Họ chỉ bo bo đi tìm kiếm những lời cũ kỹ trên mặt giấy, chắp vá, bớt thêm để đi tới cái thế đối ngẫu, mà không có cái hay của việc vận ý tìm lời. Với nghị luận thì không đủ phù hợp nhân tình, thoả đáng vật lý.
Với phép tắc thì ngày càng rơi vào hư phù lả lướt. Đúng như nhà trò bôi son trát phấn, để mua vui cho người đời trong chốc lát, mà người hiểu biết đã sớm hay là nó không thoả đáng với sự việc trong đời (…) Năm sáu mươi năm gần đây, kẻ trên nó thì dạy nó, kẻ dưới nó thì học nó, đua nhau theo đòi cái ngọn của từ chương, tỉa tách chạm trổ, hết mực xa hoa; cỏ biếc trăng non, thực là tinh xảo. Nhưng tìm xem nó có điều gì quan hệ tới quốc kế dân sinh thì tuyệt nhiên vắng bóng” [93, tr.61]; “Những kẻ chuộng công danh lúc bấy giờ thì chỉ theo đòi hư vị, nhặt lấy những chữ bã mía của tiền nho, tập làm cái lối văn chương hoa hoét, chớ không có căn bản gì cả” [93, tr. Trong bối cảnh đầy rẫy các loại văn xu thời, hào nhoáng, khinh bạc ấy, những câu thơ “tuy mộc mạc, quê mùa nhưng ý lại trung hậu, có thể thấy được phong tục thuần phác lúc đó” như “Thời hân phùng khất trị/ Thần hạnh thú tam thê” (Mừng gặp thời thịnh trị/ Thần may lấy vợ ba), theo Vũ Khâm Lân, “nên khen, không nên chê bai là quê mùa mới phải”, để có thể “trừ bỏ loại văn phù hoa, trống rỗng, để vãn hồi nền văn chương trong sáng, chân thực” [93, tr.
Từ ví dụ này, có thể thấy, mặc dù yêu cầu “văn chất bân bân”, nhưng rõ ràng “chất” vẫn là phương diện được nhà nho ưu tiên hơn cả. Điều cốt lõi của tác phẩm văn học là cái đạo được thể hiện, còn nghệ thuật chỉ là phụ. Bởi vậy, khi đánh giá tác phẩm của người khác, nhà nho có khuynh hướng quan tâm tới nội dung biểu đạt chứ ít khi bàn luận về các phương diện hình thức. Sự khiêm tốn của Doãn Uẩn ở lời bạt Dương mộng tập (Hà Tông Quyền) thực chất lại là sự không chú trọng của nhà nho nói chung đối với “văn”: “Còn như đối với sự tinh tế của cách luật, sự âm vang của vần luật, sự cao nhã của lý trí, phải tìm nó nơi người xưa, còn tôi chưa quen với Phong Tao, nên chưa dám đem nó để bình luận sự lớn lao của ông vậy, cho nên không dám dài lời thêm nữa” [117, tr.
Thậm chí, một số tác phẩm dù được ca ngợi về mặt nghệ thuật nhưng vì nội dung “có 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vấn đề” nên vẫn bị phản đối kịch liệt và bị xếp vào loại “dâm thư”, như Đoạn trường tân thanh và Phan Trần: “Gần đây có truyện Kim Vân Kiều, vần điệu réo rắt, chữ câu điêu luyện, cả nước truyền tụng, thật là một tập thơ tuyệt diệu của tiếng Việt ta, truyện Phan Trần cũng phần nào trang nhã, nhưng đều là lời trăng gió không thể dạy đời, phường quân tử áo mũ thẹn khi đọc đến” (Phạm Đình Toái, [93, tr.