ĐẶT VẤN ĐỀ Quan hệ tình dục (QHTD) đồng giới không an toàn ở nam đã là một đường lây truyền HIV quan trọng kể từ khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện cách đây hơn 30 năm tại Hoa Kỳ. Trong những năm vừa qua, tỷ lệ nhiễm HIV có xu hướng gia tăng trở lại trong nhóm nam có QHTD đồng giới (MSM) trên phạm vi toàn cầu [121]. Trong bối cảnh tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm người trưởng thành nói chung có xu hướng giảm ở hầu hết các quốc gia thì nhóm MSM vẫn đang phải chịu những ảnh hưởng nặng nề của đại dịch HIV. Tại Châu Á, nhóm MSM có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 18,7 lần so với quần thể người trưởng thành nói chung [10].
Tại Việt Nam, tỷ lệ hiện nhiễm HIV được dự báo sẽ tăng mạnh từ 11,2% vào năm 2011 lên 16,6% vào năm 2015 trong nhóm MSM nguy cơ cao và tăng đều từ 1,4% lên 2.1% ở nhóm MSM nguy cơ thấp cũng trong cùng giai đoạn. Thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM), Hải Phòng và Hà Nội 1 là các khu vực được dự báo có tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM, đặc biệt là nhóm MSM nguy cơ cao, cao nhất vào năm 2015 (38% tại tp. HCM, 30% tại Hải Phòng và 20% tại Hà Nội) [2].
Trong những năm gần đây cùng với sự tăng trưởng kinh tế và tốc độ đô thị hoá nhanh, những vấn đề xã hội phức tạp (như ma tuý, mại dâm) có liên quan đến tình hình dịch HIV/AIDS trên địa bàn thành phố Hà Nội có chiều hướng gia tăng. Theo số liệu báo cáo của Trung tâm phòng, chống AIDS Hà Nội, tính đến hết năm 2011, ước tính trên địa bàn Hà Nội có khoảng 8.164 phụ nữ bán dâm (PNBD), khoảng 30.873 người tiêm chích ma túy (TCMT) và đứng thứ hai cả nước về số người thuộc nhóm MSM (18. Hà Nội cũng là địa phương đứng thứ hai cả nước về số người nhiễm HIV hiện đang còn sống. Thực hiện các chương trình dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm MSM có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc ngăn chặn lây truyền HIV.
Tuy nhiên trong thực tế, nhóm này lại thường không được chú ý tới, cộng đồng MSM vẫn còn chưa lộ diện, bị kỳ thị, thiếu hiểu biết hoặc không có đầy đủ thông tin về lây truyền HIV. Ngoài ra, việc thiếu các nghiên cứu sâu về MSM, đặc biệt là những nghiên cứu về hành vi nguy cơ của nhóm này đang là những rào cản đáng kể cho việc tiến hành các chương trình dự phòng HIV một cách có hiệu quả. 2 Trong quá trình tìm hiểu các nghiên cứu, điều tra liên quan đến HIV và nhóm MSM tại Hà Nội giai đoạn 2007 - 2012, chúng tôi thấy rằng hầu hết các nghiên cứu liên quan đến hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn (là nguy cơ chính dẫn đến lây nhiễm HIV của nhóm MSM) mới chỉ dừng ở mức mô tả, chưa phân tích sâu nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nguy cơ này. Một số điều tra lớn như Điều tra IBBS vòng II năm 2009 – 2010 có bộ số liệu chất lượng và tương đối đầy đủ, tuy nhiên do sử dụng phương pháp phân tích số liệu không hiệu chỉnh theo phương pháp chọn mẫu nên kết quả báo cáo chính thức chưa phản ánh tính đại diện và đặc trưng cho quần thể MSM nói chung tại Hà Nội.
Xuất phát từ bối cảnh trên, chúng tôi thấy cần thiết phải có một nghiên cứu nhằm tìm hiểu sâu hơn và phương pháp phân tích số liệu phù hợp nhằm đưa ra kết quả có tính đại diện về hành vi nguy cơ của nhóm MSM tại Hà Nội, do đó chúng tôi quyết định tiến hành đề tài nghiên cứu “Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010”. Nghiên cứu thứ cấp sử dụng một phần bộ số liệu của Điều tra IBBS tiến hành năm 2009 – 2010. Kết quả của nghiên cứu đóng góp những thông tin quan trọng giúp xây dựng chiến lược và các giải pháp can thiệp cụ thể và hiệu quả hơn, đồng thời cung cấp số liệu về theo dõi và đánh giá tình hình HIV/AIDS tại Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu “Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010” phân tích số liệu thứ cấp từ Điều tra giám sát lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI vòng II năm 2009 – 2010 nhằm đạt được hai mục tiêu sau: 1.
Mô tả hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2010. Xác định một số yếu tố liên quan đến các hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2010. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình lây nhiễm HIV trong nhóm MSM 1.1 Tình hình trên thế giới Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về phòng chống HIV/AIDS (UNAIDS) ước tính đến hết năm 2012, thế giới có khoảng 35,3 triệu (ước tính từ 32,2 triệu đến 38,8 triệu) người đang sống chung với HIV, khoảng 0,8% người trưởng thành trong độ tuổi 15 đến 49 trên toàn thế giới đang sống chung với HIV [120]. Cũng theo UNAIDS, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM, tính trung bình đã vượt quá 1% tại tất cả các khu vực trên thế giới và cao hơn so với tỷ lệ nhiễm HIV quần thể nam giới nói chung.
Trong năm 2012, theo báo cáo quốc gia GARPR, trung bình tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất trong số MSM đã được báo cáo ở Tây Phi và Trung Phi (19%) và Đông Phi và Nam Phi (15%), tỷ lệ nhiễm HIV thấp hơn một chút nhưng mức độ vẫn còn cao được báo cáo trong nhóm MSM ở Mỹ Latinh (12%), Châu Á và Thái Bình Dương (11%), Tây và Trung Âu và Bắc Mỹ (8%) và vùng Caribê (7%) [120]. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM tại khu vực Trung Á dao động trong khoảng từ dưới 1% đến hơn 20%. Báo cáo Quốc gia ước tính tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM từ khoảng 1 - 2% tại Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan, Xinjiang; đến 10% tại Mongolia. Nghiên cứu chỉ số sinh học ước tính 0,4% MSM tại Afghanistan và 20.2% MSM tại Kazakhstan đã bị nhiễm HIV [128].2 Tình hình tại Việt Nam Theo ước tính của Cục Phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), tại Việt Nam năm 2011 có khoảng 250 nghìn người đang sống chung với HIV và con số này sẽ đạt đến 263 nghìn người và năm 2015 [2].
Cũng theo báo cáo của Cục Phòng, Chống HIV/AIDS, tính đến hết 31/5/2013, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện được đang còn sống trên toàn quốc là 213.413 trường hợp, trong đó số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 63.133 trường hợp tử vong do AIDS [3]. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV được dự báo sẽ tăng mạnh từ 11,2% vào năm 2011 lên 16,6% vào năm 2015 trong nhóm MSM nguy cơ cao và tăng đều từ 1,4% lên 2,1% 5 ở nhóm MSM nguy cơ thấp cũng trong cùng giai đoạn. HCM, Hải Phòng và Hà Nội 1 là các khu vực được dự báo có tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM, đặc biệt là nhóm MSM nguy cơ cao, cao nhất (38% tại tp. HCM, 30% tại Hải Phòng và 20% tại Hà Nội) vào năm 2015 [2].
Trước năm 2011, nhóm MSM không nằm trong chương trình giám sát trọng điểm của Bộ Y tế, các kết quả về chỉ số sinh học và hành vi liên quan đến HIV/STIs được thu thập chủ yếu từ chương trình giám sát lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) và một số tổ chức cũng như cá nhân khác. Kết quả điều tra IBBS vòng I năm 2006 ước tính tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM tại Hà Nội và TP.HCM lần lượt là 9,4% và 5,3% [6]. Điều tra IBBS vòng II năm 2009 cho thấy nhiễm HIV trong nhóm MSM vẫn ở mức cao, các nguy cơ vẫn đa dạng. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM ở trên mức 10% ở ba trong bốn tỉnh được khảo sát (Cần Thơ, Tp.
HCM và Hải Phòng), và lên tới mức 20% (MSM không bán dâm - Hà Nội). Ở Hà Nội và TP. HCM, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong cả hai nhóm MSM có bán dâm và không bán dâm trong năm 2009 cao hơn đáng kể so với 2006 [1]. Tại An Giang, Phạm Quang Duy và cộng sự (2009) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang dựa vào cộng đồng trên một mẫu nghiên cứu gồm 381 MSM nhằm thu thập thông tin nhân khẩu xã hội, hành vi nguy cơ, tiếp cận với các chương trình can thiệp HIV và tỷ lệ nhiễm HIV/STIs.
Kết quả nghiên cứu cho biết tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM là 6,3% [102]. Năm 2011, nhóm MSM chính thức được đưa vào chương trình giám sát trọng điểm HIV hàng năm và được triển khai tại 9 tỉnh/thành phố tập trung nhiều MSM đang cư trú trên địa bàn bao gồm: Hà Nội, Hải Dương, Đà Nẵng, Khánh Hòa, TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng và Kiên Giang. Kết quả giám sát trọng điểm năm 2012 cho thấy, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM là 2,3%.
Tỷ lệ này cao nhất ở TP. Hồ Chí Minh (7,3%), tiếp đến là Hà Nội (6,5%), Sóc Trăng (2%). So sánh với kết quả giám sát trọng điểm năm 2011, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm này có giảm xuống. Tuy nhiên, để đánh giá chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm này cần được tiếp tục theo dõi qua các năm tiếp theo [4].2 Hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn trong nhóm MSM Tình dục an toàn (safe sex) là hành vi tình dục được thực hiện bởi những người có những biện pháp tránh bệnh lây truyền đường tình dục như AIDS hoặc STIs.
Hành vi này cũng được gọi là tình dục an toàn hơn (safer sex) hoặc tình dục có bảo vệ trong khi tình dục không an toàn hoặc tình dục không bảo vệ là hành vi tình dục mà không có biện pháp đề phòng lây nhiễm. Quan hệ hậu môn là hành vi tình dục mạo hiểm và QHTD hậu môn không dùng các biện pháp bảo vệ là nguy hiểm nhất trong các dạng QHTD [69] [30]. Nguyên nhân là bên trong hậu môn có niêm mạc dễ bị tổn thương, quan hệ có thể làm các mô mềm rách, chảy máu và có thể làm giản cơ thắt hậu môn, gây mất điều khiển hậu môn và sa hậu môn [122].