Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày về khái niệm VĐT, chức năng của VĐT, lợi ích của VĐT, quy trình thanh toán bằng VĐT và một số quy định của Pháp luật liên quan đến lĩnh vực VĐT. Trong chương này cũng sẽ trình bày một số mô hình lý thuyết về các nhân tố tác động đến hành vi sử dụng công nghệ và kết quả của một số nghiên cứu trước đây về ý định sử dụng VĐT của khách hàng cá nhân. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày về qui trình nghiên cứu, cách thức xây dựng thang đo, phương pháp chọn mẫu, quá trình thu thập thông tin, công cụ xử lý dữ liệu và các kỹ thuật phân tích thống kê được sử dụng trong nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả của nghiên cứu định lượng chính thức, bao gồm các kết quả phân tích thống kê mô tả mẫu, kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy và ANOVA. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày những kết quả đáng chú ý thu được từ nghiên cứu này, đồng thời đề xuất một số kiến nghị cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ VĐT và các cơ quan quản lý liên quan để có thể thu hút nhiều người sử dụng VĐT trong TTTT nói riêng và TTĐT nói chung. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về Ví điện tử 2.1 Khái niệm Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong thông tư “Hướng dẫn vền dịch vụ trung gian thanh toán” (Ngân hàng nhà nước, 2014), “Dịch vụ ví điện tử” là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính.), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ VĐT theo tỷ lệ 1:1 và được sử dụng làm phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Tính đến 10/7/2020 Việt Nam có 35 ví điện tử - trung gian thanh toán không phải ngân hàng được nhà nước cấp phép: Hình 2.1 Danh sách ví điện tử tại việt nam theo thời kỳ 2015, 2017, 2020 Nguồn: idautu.2 Chức năng Hầu hết các VĐT tại Việt Nam có 4 chức năng chính: - Nhận và chuyển tiền: tài khoản VĐT đó có thể nhận tiền chuyển vào từ nhiều hình thức khác nhau như: nạp tiền trực tiếp tại quầy giao dịch của DNCƯVĐT, nạp tiền tại quầy giao dịch ngân hàng kết nối với DNCƯVĐT, nạp tiền trực tuyến từ tài khoản VĐT cùng loại, nạp tiền trực tuyến từ tài khoản ngân hàng (TKNH) …Khi có tiền trong tài khoản VĐT, chủ tài khoản VĐT có thể chuyển tiền sang VĐT khác cùng loại, chuyển tiền sang TKNH có liên kết hoặc chuyển cho người thân/bạn bè theo đường bưu điện và qua các chi nhánh ngân hàng.
- Lưu trữu tiền trên tài khoản điện tử: khách hàng có thể sử dụng VĐT làm nơi lưu trữ tiền dưới dạng tiền số hóa (tiền điện tử) một cách an toàn và tiện lợi. Và số tiền ghi nhận trên tài khoản VĐT tương đương với giá trị tiền thật được chuyển vào. - Thanh toán trực tuyến: khi có tiền trong tài khoản VĐT thì khách hàng cũng có thể sử dụng số tiền này để thanh toán cho các giao dịch mua sắm trực tuyến trên các gian hàng/website TMĐT hoặc các điểm bán hàng chấp nhận thanh toán bằng ví điện tử tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài có tích hợp chức năng thanh toán bằng VĐT đó. - Truy vấn tài khoản: với chức năng này, chủ tài khoản VĐT có thể thực hiện các thay đổi về thông tin cá nhân, mật khẩu, tra cứu số dư, xem lịch sử giao dịch trong tài khoản VĐT của mình.
Ngoài ra các DNCƯVĐT tại Việt Nam hiện nay còn phát triển và tích hợp thêm nhiều chức năng phụ khác nhằm đem lại nhiều tiện ích hơn cho khách hàng khi sử dụng VĐT, như: thanh toán hóa đơn, nạp thẻ cào điện thoại, thẻ game online, mua vé điện tử, thanh toán học phí… 2.3 Quy trình thanh toán qua ví điện tử Sau khi khách hàng đăng ký và kích hoạt thành công tài khoản VĐT thì các DNCƯVĐT có trách nhiệm quản lý tài khoản VĐT của khách hàng và xử lý các 6 giao dịch phát sinh trên hệ thống khi diễn ra những hoạt động nạp, rút tiền, thanh toán của khách hàng; tính toán nghĩa vụ và thông báo tới ngân hàng để thực hiện ghi nợ và ghi có đối với các tài khoản tiền thật tương ứng của các bên có liên quan. Để đảm bảo cho các giao dịch TTTT nói chung và TTTT qua VĐT diễn ra một cách thuận lợi và an toàn, NHNN đã ban hành Công văn số 6251/NHNN-TT vào ngày 10/08/2011 về việc thực hiện giao dịch thanh toán trực tuyến và ví điện tử. Theo đó, NHNN yêu cầu các DNCƯVĐT phải bố trí một TKNH riêng biệt để theo dõi toàn bộ lượng tiền đang lưu hành trên VĐT của khách hàng và phải đảm bảo số dư của tài khoản này đúng bằng tổng số tiền trên các VĐT của khách hàng.2 Mô hình thệ thống Ví điện tử Nguồn: Cục TMĐT và CNTT - Bộ công thương (2011) 7 2.2 Các học thuyết về ý định và hành vi sử dụng công nghệ mới 2.1 Thuyết Hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) Thuyết hành động hợp lý (TRA) được phát triển bởi Fishbein và Ajzen vào năm 1975 trong lĩnh vực tâm lý xã hội, dựa trên giả định rằng các cá nhân dựa vào lý trí và sử dụng các thông tin sẵn có một cách có hệ thống để thực hiện hành động. Mô hình thuyết hành động hợp lí cho rằng ý định hành vi dẫn đến hành vi và ý định được quyết định bởi thái độ cá nhân đối hành vi, cùng sự ảnh hưởng của chuẩn chủ quan xung quanh việc thực hiện các hành vi đó.
Trong đó, Thái độ và Chuẩn chủ quan có tầm quan trọng trong ý định hành vi.3 Mô hình thuyết Hành động hợp lý (TRA) (Fishbein, M., 1975) Các nhân tố chính trong mô hình TRA được định nghĩa như sau: - Hành vi: là những hành động quan sát được của đối tượng. - Thái độ: Cảm xúc tích cực hay tiêu cực của một cá nhân về một hành vi hoặc hành động. - Chuẩn chủ quan: là nhận thức của một cá nhân, với những người tham khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện. - Ý định hành vi: là một dấu hiệu về sự sẵn sàng của cá nhân để thực hiện một hành vi nào đó.
Ý định được xem như là tiền tố ngay trước hành vi. Chính vì dựa trên giả định rằng hành vi được kiểm soát bởi lý trí, nên thuyết hành vi hợp lý có nhược điểm là chỉ áp dụng để nghiên cứu các hành vi có chủ ý và chuẩn bị trước. Những hành vi theo cảm xúc, thói quen và các hành vi không được cân nhắc một cách lý trí thì không thể giải thích bằng lý thuyết này.2 Thuyết hành vi kế hoạch (Theory of Planned Behavior) Thuyết hành vi kế hoạch (TPB) được Ajzen đề xuất vào năm 1991. Ngoài các nhân tố Thái độ và Chuẩn chủ quan, Ajzen đã thêm vào nhân tố Cảm nhận kiểm soát hành vi (PBC) để phù hợp cho các tình huống mà cá nhân không có được sự kiểm soát hoàn toàn đối với việc thực hiện hành vi.
Cảm nhận kiểm soát hành vi (PBC) và Ý định (Intention) đều là những nhân tố quan trọng để dự đoán hành vi (Behavior), tùy vào các điều kiện cụ thể mà mức độ quan trọng của từng nhân tố sẽ khác nhau (Ajzen, 1991).4 Mô hình thuyết Hành vi kế hoạch (TPB) Nguồn: Ajzen (1991) Định nghĩa các nhân tố trong mô hình TPB: - Hành vi: là những hành động quan sát được của đối tượng. - Thái độ: Cảm xúc tích cực hay tiêu cực của một cá nhân về một hành vi hoặc hành động. - Chuẩn chủ quan: là nhận thức của một cá nhân, với những người tham khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện. - Ý định hành vi: là một dấu hiệu về sự sẵn sàng của cá nhân để thực hiện một hành vi nào đó.
Ý định được xem như là tiền tố ngay trước hành vi. - Cảm nhận kiểm soát hành vi: nhận thức về mức độ dễ dàng/ khó khăn khi thực hiện hành vi.3 Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) Nhằm giải thích hành vi sử dụng của cá nhân trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Fred Davis (1989) đã giới thiệu mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) dựa trên thuyết hành động hợp lý (TRA) của Ajzen & Fishbein. Trong mô hình chấp nhận công nghệ, Davis đã thay thế hai biến thái độ và chuẩn chủ quan bằng hai biến mới là Cảm nhận hữu ích (Perceived Usefullness) và Cảm nhận Dễ sử dụng (Perceived Ease of Use).5 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Nguồn: Davis (1989) Theo nghiên cứu của Lee, et al. (2003) chỉ ra một nhược điểm của mô hình TAM là chỉ được áp dụng khi nghiên cứu một loại công nghệ, một đối tượng và một thời điểm nhất định.
Để hạn chế các nhược điểm trên, Venkatesh và Davis (2000) đã tiến hành các nghiên cứu theo chiều dọc với 4 hệ thống công nghệ ở 4 tổ chức tại 3 thời điểm khác nhau, và đề xuất một mô hình mới TAM2. TAM 2 - là mô hình mở rộng của TAM có thêm vào các biến liên quan đến các ảnh hưởng xã hội (Chuẩn chủ quan, Sự tự nguyện và Hình ảnh) và liên quan đến nhận thức về phương tiện (Phù hợp với công việc, Chất lượng đầu ra, Tính minh chứng của kết quả). Các nhân tố chính trong TAM2 được định nghĩa như sau: - Cảm nhận hữu ích (PU): mức độ mà cá nhân tin rằng sử dụng hệ thống công nghệ giúp anh ấy/cô ấy nâng cao hiệu quả trong công việc. 10 - Cảm nhận dễ sử dụng (PEOU): Cảm nhận của cá nhân về mức độ dễ dàng khi sử dụng hệ thống công nghệ.
- Chuẩn chủ quan (SN): cảm nhận hầu hết những người quan trọng với anh ta cho rằng anh ta nên/không nên thực hiện hành vi trong mục hỏi.