Tìm Hiểu Hành Vi Nguy Cơ Về Sức Khỏe Của Học Sinh Trường THPT Nguyễn Trãi, Hà Nội

Tài liệu nghiên cứu Luận văn tìm hiểu một số hành vi nguy cơ về sức khỏe và các yếu tố liên quan của học sinh trường, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2014

92
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Thanh thiếu niên

1.2. Hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên

1.2.1. Các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông và hành vi bạo lực

1.2.2. Hành vi sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện

1.3. Thực trạng hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên

1.3.1. Hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên trên thế giới

1.3.2. Hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên Việt Nam

1.4. Các yếu tố liên quan đến hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên

1.4.1. Yếu tố cá nhân

1.4.2. Yếu tố môi trường

1.5. Ảnh hưởng của việc sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện tới các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông và hành vi bạo lực

1.6. Thông tin về đối tượng nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng và địa điểm tiến hành nghiên cứu

2.3. Phương pháp chọn mẫu

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp thu thập số liệu

2.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

2.7. Các biến số nghiên cứu

2.8. Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu

2.9. Phân tích số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.2. Các hành vi nguy cơ của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi

3.2.1. Tỷ lệ đã từng có các HVNC khi tham gia giao thông và bạo lực

3.2.2. Sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện

3.2.3. Một số yếu tố liên quan đến HVNC của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi

3.3. Các yếu tố liên quan đến các HVNC khi tham gia giao thông và bạo lực

3.3.1. Hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông

3.3.2. Hành vi sử dụng đồ uống có cồn và các chất gây nghiện

3.3.2.1. Sử dụng đồ uống có cồn
3.3.2.2. Sử dụng chất gây nghiện

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Hành vi nguy cơ của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi

4.2. Các yếu tố liên quan đến hành vi nguy cơ về sức khỏe

4.2.1. Các yếu tố liên quan tới hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông

4.2.2. Các yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực

4.2.3. Các yếu tố liên quan đến hút thuốc lá

4.2.4. Các yếu tố liên quan đến uống rượu

4.2.5. Các yếu tố liên quan đến sử dụng chất gây nghiện

4.3. Hạn chế của nghiên cứu

4.4. Mối liên quan giữa các yếu tố với hành vi nguy cơ về sức khỏe

4.4.1. Các yếu tố liên quan đến hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông và bạo lực

4.4.2. Các yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BỘ CÂU HỎI ĐIỀU TRA HVNC

BIÊN BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Hành Vi Nguy Cơ Sức Khỏe Học Sinh

Nghiên cứu về hành vi nguy cơ sức khỏe học sinh THPT ngày càng trở nên quan trọng. Thanh thiếu niên (TTN) Việt Nam đang đối mặt với nhiều nguy cơ sức khỏe tuổi học đường ngày càng phổ biến và trẻ hóa. Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu về các hành vi nguy cơ của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, Hà Nội, một thành phố lớn với số lượng TTN đáng kể. Nghiên cứu này sử dụng số liệu thứ cấp từ một nghiên cứu cắt ngang, với mục tiêu mô tả các hành vi sức khỏe học sinh THPT này và xác định các yếu tố liên quan. Theo điều tra của Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, nhóm TTN ở độ tuổi 10-24 là nhóm đông nhất, chiếm gần 1/3 dân số cả nước. WHO và Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam xác định TTN là độ tuổi từ 10-24, và được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn đầu vị thành niên từ 10-14 tuổi, giai đoạn sau vị thành niên từ 15-19 tuổi và giai đoạn thanh niên là từ 19- 24 tuổi, trong đó nhóm TTN từ 15-19 tuổi là nhiều nhất, chiếm 36.4% TTN cả nước.

1.1. Thực Trạng Hành Vi Nguy Cơ Của Thanh Thiếu Niên Hiện Nay

Thực tế cho thấy, các hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên như hút thuốc, uống rượu bia đang gia tăng. Theo điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY2), 43.6% nam TTN cho biết đã từng hút thuốc, tỷ lệ nam thanh niên uống rượu bia là 69%, hành vi này cũng đang trở nên phổ biến hơn ở nữ giới với tỷ lệ là 28%. Đối với những HVNC khi tham gia giao thông thì 75% TTN cho biết họ không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, đây là lí do góp phần khiến cho tai nạn giao thông là nguyên nhân tử vong hàng đầu của TTN lứa tuổi 15-19.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Về Hành Vi Nguy Cơ Sức Khỏe

Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu mô tả các hành vi nguy cơ cụ thể (như các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông và bạo lực, hành vi sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện) của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi. Đồng thời, nghiên cứu sẽ xác định các yếu tố liên quan đến hai nhóm hành vi nguy cơ này. Luận văn này sử dụng bộ số liệu của Viện nghiên cứu sức khỏe trẻ em và tập trung vào 2 nhóm hành vi bao gồm các HVNC khi tham gia giao thông và bạo lực; hành vi sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện.

II. Vấn Đề Nghiêm Trọng Nguy Cơ Sức Khỏe Tuổi Học Đường

Các nguy cơ sức khỏe tuổi học đường gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nghiên cứu chỉ ra, Hà Nội đối mặt với nhiều thách thức do mật độ dân số cao và sự tập trung của nhiều trường học. TTN dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tiêu cực của xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn khám phá và tìm hiểu. Tỷ lệ TTN tham gia vào các hành vi bạo lực, sử dụng chất kích thích ngày càng tăng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thể chất và tinh thần. Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), HNVC của TTN bao gồm 6 nhóm hành vi góp phần dẫn đến tàn tật và tử vong ở TTN bao gồm: (1) các hành vi dẫn đến chấn thương không chủ ý và bạo lực; (2) hành vi tình dục dẫn đến mang thai ngoài ý muốn, bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV; (3) sử dụng đồ uống có cồn và các chất gây nghiện; (4) hút thuốc; (5) chế độ ăn uống không lành mạnh và (6) ít hoạt động thể chất[30].

2.1. Ảnh Hưởng Tiêu Cực Của Môi Trường Xã Hội Đến Học Sinh

Học sinh THPT ở Hà Nội dễ dàng tiếp cận với những xu hướng giáo dục, y tế, văn hóa tiên tiến. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực. Các em đang trong giai đoạn thích khám phá, tìm hiểu những cái mới nhưng lại thiếu kinh nghiệm chọn lọc. Có thể thấy trong những năm gần đây, tỷ lệ TTN có các hành vi bạo lực, tham gia vào các hội nhóm đánh nhau, gây rối ngày càng tăng lên ở cả hai giới.

2.2. Tác Động Của Hành Vi Nguy Cơ Đến Sức Khỏe Học Sinh THPT

Các hành vi nguy cơ có xu hướng trẻ hóa, gây ra những hệ lụy khôn lường cho sự phát triển toàn diện của TTN. Bên cạnh đó, độ tuổi hút thuốc, sử dụng rượu bia và các HVNC khác của TTN có xu hướng trẻ hóa, điều này càng khiến TTN có nguy cơ phát triển không toàn diện về thể chất và tinh thần. Để tìm hiểu rõ hơn về những HVNC của TTN, Viện Nghiên cứu sức khỏe trẻ em – Bệnh viện Nhi Trung ương đã tiến hành nghiên cứu “Tìm hiểu một số HVNC về sức khỏe và các yếu tố liên quan của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, Hà Nội năm 2013”

III. Phương Pháp Khảo Sát Sức Khỏe Học Sinh Nguyễn Trãi Hà Nội

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích, chọn mẫu toàn bộ 809 học sinh trường THPT Nguyễn Trãi. Dữ liệu thu thập được phân tích bằng kiểm định khi bình phương để đo lường mối liên quan đôi biến. Mô hình hồi quy logistic được sử dụng để kiểm soát nhiễu. Nghiên cứu này sử dụng một phần số liệu thứ cấp từ một nghiên cứu cắt ngang về HVNC về sức khỏe của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, Hà Nội. Luận văn này sử dụng bộ số liệu của Viện nghiên cứu sức khỏe trẻ em và tập trung vào 2 nhóm hành vi bao gồm các HVNC khi tham gia giao thông và bạo lực; hành vi sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện.

3.1. Đối Tượng Và Phương Pháp Chọn Mẫu Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ 809 học sinh của trường THPT Nguyễn Trãi. Việc chọn mẫu toàn bộ giúp đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của kết quả. Thiết kế mô tả cắt ngang cho phép thu thập thông tin về hành vi nguy cơ và các yếu tố liên quan tại một thời điểm nhất định.

3.2. Công Cụ Và Quy Trình Thu Thập Số Liệu Khảo Sát

Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ được thiết kế dựa trên các bộ công cụ quốc tế và trong nước, đã được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Các bước dịch thuật và thử nghiệm được thực hiện cẩn thận để đảm bảo tính chính xác và dễ hiểu của thông tin. Trong quá trình xây dựng công cụ nghiên cứu, nhóm nghiên cứu của Viện nghiên cứu Sức khỏe trẻ em đã tìm hiểu một số bộ công cụ được sử dụng để đánh giá về HVNC của TTN trên thế giới và tại Việt Nam như điều tra về HVNC của TTN (Youth Risk Behavior Survey) của CDC, điều tra SAVY, nghiên cứu của Lê Cự Linh.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tình Trạng Sức Khỏe Học Sinh THPT

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ học sinh có hành vi nguy cơ sức khỏe khi tham gia giao thông là cao nhất (59.6%). Tỷ lệ học sinh sử dụng đồ uống có cồn là đáng kể, trong khi tỷ lệ học sinh có các hành vi bạo lực, hút thuốc lá và sử dụng chất gây nghiện cũng cần được quan tâm. Kết quả: Tỷ lệ học sinh có HVNC khi tham gia giao thông là cao nhất (59.6% học sinh sử dụng đồ uống có cồn, tỷ lệ học sinh có các hành vi bạo lực là 29.8% học sinh hút thuốc lá và 9.5% học sinh sử dụng chất gây nghiện. Sử dụng chất gây nghiện là yếu tố nguy cơ cao nhất có ý nghĩa thống kê tới HVNC khi tham gia giao thông (OR=1.05) và hành vi bạo lực (OR=13.001) so với hút thuốc lá và uống rượu/bia.

4.1. Phân Tích Chi Tiết Các Hành Vi Nguy Cơ Khi Tham Gia Giao Thông

Nghiên cứu phân tích cụ thể các hành vi như không đội mũ bảo hiểm, vượt đèn đỏ, lái xe khi chưa đủ tuổi, chở quá số người quy định. Các hành vi này đều làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng của học sinh. Theo báo cáo của SAVY2, tai nạn giao thông chiếm khoảng 70% các trường hợp chấn thương không chủ ý ở nhóm tuổi 14-25[12, 57]. Đây là lí do mà trong nghiên cứu của học viên, các hành vi dẫn đến chấn thương không chủ ý chủ yếu tập trung vào nhóm các hành vi có thể dẫn đến tai nạn giao thông của TTN nhóm tuổi 15-19.

4.2. Tỷ Lệ Sử Dụng Chất Kích Thích Rượu Thuốc Lá Chất Gây Nghiện

Nghiên cứu cung cấp số liệu về tỷ lệ học sinh sử dụng rượu bia, thuốc lá và các chất gây nghiện khác. Các hành vi này gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe thể chất và tinh thần của học sinh, ảnh hưởng đến sự phát triển và học tập. Theo điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY2), 43.6% nam TTN cho biết đã từng hút thuốc, tỷ lệ nam thanh niên uống rượu bia là 69%, hành vi này cũng đang trở nên phổ biến hơn ở nữ giới với tỷ lệ là 28%.

V. Yếu Tố Ảnh Hưởng Sức Khỏe Nghiên Cứu Học Sinh Hà Nội

Nghiên cứu xác định các yếu tố cá nhân (giới tính, học lực) và môi trường (quan hệ gia đình, xã hội) liên quan đến hành vi nguy cơ của học sinh. Mức độ dễ tiếp cận và nhận thức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện. Một số yếu tố cá nhân như giới tính, học lực và các yếu tố môi trường về mối quan hệ gia đình (ăn cơm cùng các thành viên gia đình, thường xuyên giao tiếp với cha mẹ, nhận được sự giúp đỡ từ người lớn tuổi) và xã hội (tham gia câu lạc bộ, giúp đỡ người khác) là những yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới việc có các HVNC về sức khỏe.

5.1. Vai Trò Của Gia Đình Trong Việc Hình Thành Hành Vi

Mối quan hệ gia đình chặt chẽ, sự quan tâm và hỗ trợ từ cha mẹ có thể giúp giảm thiểu các hành vi nguy cơ ở học sinh. Ngược lại, môi trường gia đình không ổn định có thể tạo điều kiện cho các em tham gia vào các hoạt động tiêu cực. Bảng 3.1: Đặc điểm cá nhân 35 Bảng 3.2: Yếu tố môi trường 36.

5.2. Tác Động Của Môi Trường Xã Hội Đến Sức Khỏe Học Sinh

Sự tham gia vào các hoạt động xã hội tích cực, các câu lạc bộ và tổ chức đoàn thể có thể giúp học sinh phát triển kỹ năng sống, xây dựng mối quan hệ lành mạnh và tránh xa các hành vi nguy cơ. Hà Nội là thành phố lớn với dân số đứng thứ 2 cả nước và mật độ dân số gấp 7.4 lần mật độ dân số cả nước, số lượng TTN trên địa bàn Hà Nội chiếm khoảng 30% dân số và tương đối phức tạp do Hà Nội là nơi tập trung nhiều trường trung học, cao đẳng và đại học.

VI. Giải Pháp Phòng Ngừa Nguy Cơ Sức Khỏe Cho Học Sinh

Nghiên cứu khuyến nghị tăng cường các chương trình can thiệp phòng ngừa hành vi nguy cơ cho học sinh THPT, tập trung vào ảnh hưởng của việc sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện. Cần có các biện pháp kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc chấp hành luật giao thông và bán thuốc lá, rượu bia tại các khu vực gần trường học. Kết luận: các HVNC được tìm hiểu trong nghiên cứu là khá phổ biến trong nhóm học sinh tham gia nghiên cứu, trong đó HVNC khi tham gia giao thông là phổ biến nhất. Các HVNC có mối liên quan chặt chẽ với nhau và có liên quan tới các yếu tố cá nhân, yếu tố môi trường được đề cập đến trong nghiên cứu.

6.1. Tăng Cường Giáo Dục Sức Khỏe Trong Trường Học

Cần có các chương trình giáo dục sức khỏe toàn diện, cung cấp cho học sinh kiến thức về các hành vi nguy cơ, tác hại của chúng và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Các chương trình nên được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và bối cảnh văn hóa. Khuyến nghị: Cần tăng cường các chương trình can thiệp phòng ngừa HVNC cho học sinh THPT, nội dung chú trọng vào ảnh hưởng của việc sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện, tập trung vào đối tượng nam giới.

6.2. Hợp Tác Giữa Gia Đình Nhà Trường Và Xã Hội

Sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội là yếu tố then chốt để phòng ngừa hiệu quả các hành vi nguy cơ ở học sinh. Cần có các hoạt động chung để nâng cao nhận thức và tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển của TTN. Tăng x cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành luật giao thông và bán thuốc lá, rượu/bia tại các khu vực gần trường học.

04/06/2025
Luận văn tìm hiểu một số hành vi nguy cơ về sức khỏe và các yếu tố liên quan của học sinh trường thpt nguyễn trãi hà nội năm 2013

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thanh thiếu niên TTN là một giai đoạn chuyển tiếp thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành. Sự chuyển tiếp này liên quan tới những thay đổi về sinh học (ví dụ dậy thì), xã hội và tâm lý, dù những thay đổi về sinh học và tâm lý là dễ nhận thấy nhất[17]. WHO và Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam xác định TTN là độ tuổi từ 10-24, và được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn đầu vị thành niên (VTN) từ 10-14 tuổi, giai đoạn sau vị thành niên từ 15-19 tuổi và giai đoạn thanh niên (TN) là từ 19-24 tuổi [22].

Trong giai đoạn này, các em có những sự biến đổi lớn cả về cơ thể và tâm sinh lý nên rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương, đây cũng là giai đoạn VTN, TN muốn khẳng định tính độc lập của mình, thay thế tình trạng phụ thuộc vào cha mẹ và những người lớn khác. Tuổi VTN, TN cũng là giai đoạn có nhiều sự thay đổi về các mối quan hệ xã hội, các em có thể tìm hiểu về cuộc sống, tham gia vào các mối quan hệ xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm khẳng định cá tính riêng của bàn thân mình. Với đặc điểm tâm sinh lý phức tạp như vây nên trong giai đoạn này TTN rất dễ mắc phải các HVNC như: hút thuốc lá, sử dụng đồ uống có cồn và các chất gây nghiện, và những hành vi liên quan đến sức khỏe và an toàn cá nhân…. Hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên Thuật ngữ “hành vi nguy cơ” được sử dụng tương đối rộng rãi trong các nghiên cứu, tuy nhiên lại chưa có định nghĩa rõ ràng về thuật ngữ này.

Trong các nghiên cứu gần đây, đa phần thuật ngữ “hành vi nguy cơ” được sử dụng để chỉ những hành động có thể dẫn đến hậu quả xấu có thể gây hại cho con người hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển của con người, ví dụ như hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bị ung thư, nhắn tin hoặc nói chuyện điện thoại khi đang lái xe làm tăng nguy cơ bị tai nạn…. Một số HVNC được coi là bình thường và là một phần của sự phát triển, tuy nhiên có một giới hạn của HVNC mà khi vượt qua giới hạn đó thì những hành vi đó sẽ trở thành có hại. 6 CDC đã tiến hành điều tra trên diện rộng 2 năm 1 lần về HVNC của TTN các trường trung học tại Mỹ từ năm 1991. Trong điều tra này, HVNC của TTN bao gồm 6 nhóm hành vi góp phần dẫn đến tàn tật và tử vong ở TTN và người trưởng thành trẻ tuổi đó là: (1) các hành vi dẫn đến chấn thương không chủ ý và bạo lực; (2) hành vi tình dục dẫn đến mang thai ngoài ý muốn, bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV; (3) sử dụng đồ uống có cồn và các chất gây nghiện; (4) hút thuốc lá; (5) chế độ ăn uống không lành mạnh và (6) ít hoạt động thể chất[30].

Trong quá trình xây dựng công cụ nghiên cứu, nhóm nghiên cứu của Viện nghiên cứu Sức khỏe trẻ em đã tìm hiểu một số bộ công cụ được sử dụng để đánh giá về HVNC của TTN trên thế giới và tại Việt Nam như điều tra về HVNC của TTN (Youth Risk Behavior Survey) của CDC, điều tra SAVY, nghiên cứu của Lê Cự Linh. Với mục đích của nghiên cứu là có được những đánh giá khái quát nhất về HVNC của TTN mà không quá đi sâu tìm hiểu những nguyên nhân sâu sa và các yếu tố ảnh hưởng. Bên cạnh đó cũng đảm bảo phù hợp với kinh phí và nhân lực của Viện nghiên cứu thì bộ công cụ của CDC được đánh giá là hợp lí để lựa chọn. Hiện nay trên thế giới, đã có rất nhiều nước điều tra về HVNC của TTN sử dụng bộ công cụ YBRS của CDC.

Ở Mỹ, điều tra này được tiến hành 2 năm 1 lần với sự tham gia của hầu hết các bang, điều tra này cũng được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới như Romania, Nam Phi…và một số nước Châu Á như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản[30, 33]. Bộ công cụ được dịch xuôi bới công ty dịch thuật Hà Thành, sau đó được dịch ngược bởi nhóm nhân viên của Viện nghiên cứu bao gồm 1 Tiến sỹ tâm lí, 1 Thạc sỹ tâm lí đã từng có kinh nghiệm làm nghiên cứu về TTN, 1 cử nhân ngoại ngữ. Nhóm nghiên cứu cũng đã tìm hiểu một số yếu tố được đánh giá là có mối liên quan tới HVNC của TTN trong các nghiên cứu khác để bổ sung thêm vào bộ công cụ. Bộ công cụ được hội đồng đạo đức của Bệnh viện Nhi thông qua, trước khi tiến hành thu thập số liệu, bộ công cụ được thử nghiệm về mức độ phù hợp và dễ hiểu của thông tin.

Các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông và hành vi bạo lực Báo cáo phòng ngừa chấn thương trẻ em năm 2008 của WHO ước tính trên thế giới có khoảng 950.000 trẻ em dưới 18 tuổi chết do chấn thương và bạo lực, trong số các trường hợp tử vong do chấn thương thì 90% là chấn thương không chủ ý, chủ yếu là do tai nạn giao thông và đuối nước[52]. Tai nạn giao thông là nguyên nhân tử vong hàng đầu, chiếm khoảng 40% các trường hợp tử vong của nhóm TTN 15-19 tuổi trên thế giới. Ở Việt Nam, theo báo cáo của SAVY2, tai nạn giao thông chiếm khoảng 70% các trường hợp chấn thương không chủ ý ở nhóm tuổi 14-25[12, 57]. Đây là lí do mà trong nghiên cứu của học viên, các hành vi dẫn đến chấn thương không chủ ý chủ yếu tập trung vào nhóm các hành vi có thể dẫn đến tai nạn giao thông của TTN nhóm tuổi 15-19.

Bạo lực là hành vi sử dụng vũ lực hoặc quyền lực, đe dọa hoặc thực hiện nhằm chống lại bản thân hoặc người khác, hoặc chống lại một nhóm hay cộng đồng mà kết quả có thể dẫn đến bị thương, gây tử vong, gây tổn hại về tâm lí, ảnh hưởng đến sự phát triển của bản thân hoặc của người khác. Bạo lực có thể được chia thành 3 nhóm theo đối tượng tham gia hành vi bạo lực bao gồm: bạo lực tự định hướng, bạo lực giữa các cá nhân, bạo lực tập thể, hình thức và mức độ bạo lực cũng có nhiều mức độ khác nhau[53]. Trong nghiên cứu của học viên, hành vi bạo lực được đề cập đến chủ yếu là bạo lực giữa các cá nhân và bạo lực tập thể với hình thức bạo lực như gây hấn, đánh nhau, đe dọa hoặc bắt nạt. Hành vi sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện Đồ uống có cồn là một loại thức uống có chứa Ethanol, được chia thành 3 loại là bia, rượu và rượu vang.

Đồ uống có cồn được con người tiêu thụ từ khoảng 7000-6600 trước Công nguyên và hiện nay được tiêu thụ hợp pháp ở hầu hết các nước trên thế giới[18]. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ tiêu thụ đồ uống có cồn cao ở khu vực Châu Á, theo số liệu của hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam, chỉ trong khoảng 7 năm từ 2003, mức tăng trưởng hàng năm của thị trường bia Việt Nam đã tăng gần gấp đôi và chiếm vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng các quốc gia có tỷ lệ tiêu thụ bia nhiều nhất[23]. Ở nhiều nước trên thế giới có quy định về độ tuổi sử dụng rượu, tại Việt 8 Nam, từ năm 2008, pháp luật nước ta đã quy định cấm các tổ chức, cá nhân bán rượu cho người dưới 18 tuổi, tuy nhiên việc thực hiện quy định này vẫn chưa hiệu quả. Không có định nghĩa chính xác duy nhất nào về chất gây nghiện vì có nhiều giải thích khác nhau trong luật quy định về chất gây nghiện, trong các quy định của chính phủ, trong y học và trong cách sử dụng tùy theo thông tục.

WHO định nghĩa chất gây nghiện là “bất kỳ loại chất nào sau khi được hấp thu vào cơ thể có khả năng làm thay đổi các chức năng sống thông thường”. Theo luật Phòng chống ma túy của Việt Nam thì “chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng”. Trong nghiên cứu của học viên, thuật ngữ chất gây nghiện được sử dụng để chỉ các chất gây nghiện giảm trì thần kinh dạng amphetamine (ATS) gồm các loại hồng phiến (methamphetamine dạng viên), đá (methamphetamine dạng tinh thể) và thuốc lắc (Estacy, MDMA)[2] 1. Thực trạng hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên 1.

Hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên trên thế giới 1. Các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông và hành vi bạo lực Các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông Tai nạn giao thông là chấn thương không chủ ý có tỷ lệ cao nhất so với các nhóm chấn thương không chủ ý khác như bỏng, ngã, đuối nước, ngộ độc[52]. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), tai nạn giao thông đứng thứ 8 trong số các nguyên nhân gây tử vong trên thế giới và là nguyên nhân gây chấn thương, tử vong hàng đầu ở thanh thiếu niến độ tuổi từ 10-24.000 người dưới 25 tuổi chết do tai nạn giao thông, trung bình có hơn 1000 người chết mỗi ngày, gánh nặng do tai nạn giao thông tiêu tốn hàng tỉ đô la mỗi năm và để lại hậu quả nặng nề ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn cầu. Dự đoán đến năm 2030, nếu không có những can thiệp kịp thời thì tai nạn giao thông sẽ là một trong năm nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới[52, 57].

Báo cáo thế giới về phòng ngừa tai nạn giao thông cho biết 60% chấn thương và tử vong do tai nạn giao thông tập trung ở nhóm tuổi 15-44, chủ yếu là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (90%), tỷ lệ này gấp gần 2 lần so với các nước có thu nhập cao và 9 hầu hết các trường hợp này tập trung ở nhóm dễ bị tổn thương khi tham gia giao thông như: người đi bộ, đi xe đạp hoặc xe mô tô (50%)[57]. Báo cáo này cũng chỉ ra rằng, 5 yếu tố nguy cơ dẫn đến chấn thương và tử vong khi tham gia giao thông đó là: tốc độ lái xe, uống rượu bia khi lái xe, không dử dụng mũ bảo hiểm, không sử dụng dây an toàn và hạn chế trẻ em[57]. Trên thực tế, những rủi ro khi tham gia giao thông hoàn toàn có thể giảm thiểu được nếu người tham gia giao thông chấp hành đúng những quy định về an toàn khi tham gia giao thông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hành Vi Nguy Cơ Về Sức Khỏe Của Học Sinh Trường THPT Nguyễn Trãi, Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hành vi có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của học sinh, từ đó giúp nâng cao nhận thức và cải thiện các biện pháp can thiệp. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra những nguy cơ sức khỏe mà học sinh đang phải đối mặt, mà còn đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu những rủi ro này. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích để hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của học sinh, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn giáo dục và chăm sóc sức khỏe.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ nguy cơ sử dụng ma tuý ở học sinh trung học phổ thông, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về một trong những nguy cơ lớn nhất đối với sức khỏe học sinh. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ trầm cảm ở học sinh trung học phổ thông sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề tâm lý mà học sinh đang gặp phải. Cuối cùng, Khảo sát kiến thức thái độ thực hành về các biện pháp phòng chống covid 19 của học sinh trường thpt trần quang khải tỉnh hưng yên năm 2021 sẽ cung cấp thông tin về cách học sinh ứng phó với các tình huống sức khỏe cộng đồng hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe học sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến nó.