CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thanh thiếu niên TTN là một giai đoạn chuyển tiếp thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành. Sự chuyển tiếp này liên quan tới những thay đổi về sinh học (ví dụ dậy thì), xã hội và tâm lý, dù những thay đổi về sinh học và tâm lý là dễ nhận thấy nhất[17]. WHO và Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam xác định TTN là độ tuổi từ 10-24, và được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn đầu vị thành niên (VTN) từ 10-14 tuổi, giai đoạn sau vị thành niên từ 15-19 tuổi và giai đoạn thanh niên (TN) là từ 19-24 tuổi [22].
Trong giai đoạn này, các em có những sự biến đổi lớn cả về cơ thể và tâm sinh lý nên rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương, đây cũng là giai đoạn VTN, TN muốn khẳng định tính độc lập của mình, thay thế tình trạng phụ thuộc vào cha mẹ và những người lớn khác. Tuổi VTN, TN cũng là giai đoạn có nhiều sự thay đổi về các mối quan hệ xã hội, các em có thể tìm hiểu về cuộc sống, tham gia vào các mối quan hệ xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm khẳng định cá tính riêng của bàn thân mình. Với đặc điểm tâm sinh lý phức tạp như vây nên trong giai đoạn này TTN rất dễ mắc phải các HVNC như: hút thuốc lá, sử dụng đồ uống có cồn và các chất gây nghiện, và những hành vi liên quan đến sức khỏe và an toàn cá nhân…. Hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên Thuật ngữ “hành vi nguy cơ” được sử dụng tương đối rộng rãi trong các nghiên cứu, tuy nhiên lại chưa có định nghĩa rõ ràng về thuật ngữ này.
Trong các nghiên cứu gần đây, đa phần thuật ngữ “hành vi nguy cơ” được sử dụng để chỉ những hành động có thể dẫn đến hậu quả xấu có thể gây hại cho con người hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển của con người, ví dụ như hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bị ung thư, nhắn tin hoặc nói chuyện điện thoại khi đang lái xe làm tăng nguy cơ bị tai nạn…. Một số HVNC được coi là bình thường và là một phần của sự phát triển, tuy nhiên có một giới hạn của HVNC mà khi vượt qua giới hạn đó thì những hành vi đó sẽ trở thành có hại. 6 CDC đã tiến hành điều tra trên diện rộng 2 năm 1 lần về HVNC của TTN các trường trung học tại Mỹ từ năm 1991. Trong điều tra này, HVNC của TTN bao gồm 6 nhóm hành vi góp phần dẫn đến tàn tật và tử vong ở TTN và người trưởng thành trẻ tuổi đó là: (1) các hành vi dẫn đến chấn thương không chủ ý và bạo lực; (2) hành vi tình dục dẫn đến mang thai ngoài ý muốn, bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV; (3) sử dụng đồ uống có cồn và các chất gây nghiện; (4) hút thuốc lá; (5) chế độ ăn uống không lành mạnh và (6) ít hoạt động thể chất[30].
Trong quá trình xây dựng công cụ nghiên cứu, nhóm nghiên cứu của Viện nghiên cứu Sức khỏe trẻ em đã tìm hiểu một số bộ công cụ được sử dụng để đánh giá về HVNC của TTN trên thế giới và tại Việt Nam như điều tra về HVNC của TTN (Youth Risk Behavior Survey) của CDC, điều tra SAVY, nghiên cứu của Lê Cự Linh. Với mục đích của nghiên cứu là có được những đánh giá khái quát nhất về HVNC của TTN mà không quá đi sâu tìm hiểu những nguyên nhân sâu sa và các yếu tố ảnh hưởng. Bên cạnh đó cũng đảm bảo phù hợp với kinh phí và nhân lực của Viện nghiên cứu thì bộ công cụ của CDC được đánh giá là hợp lí để lựa chọn. Hiện nay trên thế giới, đã có rất nhiều nước điều tra về HVNC của TTN sử dụng bộ công cụ YBRS của CDC.
Ở Mỹ, điều tra này được tiến hành 2 năm 1 lần với sự tham gia của hầu hết các bang, điều tra này cũng được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới như Romania, Nam Phi…và một số nước Châu Á như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản[30, 33]. Bộ công cụ được dịch xuôi bới công ty dịch thuật Hà Thành, sau đó được dịch ngược bởi nhóm nhân viên của Viện nghiên cứu bao gồm 1 Tiến sỹ tâm lí, 1 Thạc sỹ tâm lí đã từng có kinh nghiệm làm nghiên cứu về TTN, 1 cử nhân ngoại ngữ. Nhóm nghiên cứu cũng đã tìm hiểu một số yếu tố được đánh giá là có mối liên quan tới HVNC của TTN trong các nghiên cứu khác để bổ sung thêm vào bộ công cụ. Bộ công cụ được hội đồng đạo đức của Bệnh viện Nhi thông qua, trước khi tiến hành thu thập số liệu, bộ công cụ được thử nghiệm về mức độ phù hợp và dễ hiểu của thông tin.
Các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông và hành vi bạo lực Báo cáo phòng ngừa chấn thương trẻ em năm 2008 của WHO ước tính trên thế giới có khoảng 950.000 trẻ em dưới 18 tuổi chết do chấn thương và bạo lực, trong số các trường hợp tử vong do chấn thương thì 90% là chấn thương không chủ ý, chủ yếu là do tai nạn giao thông và đuối nước[52]. Tai nạn giao thông là nguyên nhân tử vong hàng đầu, chiếm khoảng 40% các trường hợp tử vong của nhóm TTN 15-19 tuổi trên thế giới. Ở Việt Nam, theo báo cáo của SAVY2, tai nạn giao thông chiếm khoảng 70% các trường hợp chấn thương không chủ ý ở nhóm tuổi 14-25[12, 57]. Đây là lí do mà trong nghiên cứu của học viên, các hành vi dẫn đến chấn thương không chủ ý chủ yếu tập trung vào nhóm các hành vi có thể dẫn đến tai nạn giao thông của TTN nhóm tuổi 15-19.
Bạo lực là hành vi sử dụng vũ lực hoặc quyền lực, đe dọa hoặc thực hiện nhằm chống lại bản thân hoặc người khác, hoặc chống lại một nhóm hay cộng đồng mà kết quả có thể dẫn đến bị thương, gây tử vong, gây tổn hại về tâm lí, ảnh hưởng đến sự phát triển của bản thân hoặc của người khác. Bạo lực có thể được chia thành 3 nhóm theo đối tượng tham gia hành vi bạo lực bao gồm: bạo lực tự định hướng, bạo lực giữa các cá nhân, bạo lực tập thể, hình thức và mức độ bạo lực cũng có nhiều mức độ khác nhau[53]. Trong nghiên cứu của học viên, hành vi bạo lực được đề cập đến chủ yếu là bạo lực giữa các cá nhân và bạo lực tập thể với hình thức bạo lực như gây hấn, đánh nhau, đe dọa hoặc bắt nạt. Hành vi sử dụng đồ uống có cồn và chất gây nghiện Đồ uống có cồn là một loại thức uống có chứa Ethanol, được chia thành 3 loại là bia, rượu và rượu vang.
Đồ uống có cồn được con người tiêu thụ từ khoảng 7000-6600 trước Công nguyên và hiện nay được tiêu thụ hợp pháp ở hầu hết các nước trên thế giới[18]. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ tiêu thụ đồ uống có cồn cao ở khu vực Châu Á, theo số liệu của hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam, chỉ trong khoảng 7 năm từ 2003, mức tăng trưởng hàng năm của thị trường bia Việt Nam đã tăng gần gấp đôi và chiếm vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng các quốc gia có tỷ lệ tiêu thụ bia nhiều nhất[23]. Ở nhiều nước trên thế giới có quy định về độ tuổi sử dụng rượu, tại Việt 8 Nam, từ năm 2008, pháp luật nước ta đã quy định cấm các tổ chức, cá nhân bán rượu cho người dưới 18 tuổi, tuy nhiên việc thực hiện quy định này vẫn chưa hiệu quả. Không có định nghĩa chính xác duy nhất nào về chất gây nghiện vì có nhiều giải thích khác nhau trong luật quy định về chất gây nghiện, trong các quy định của chính phủ, trong y học và trong cách sử dụng tùy theo thông tục.
WHO định nghĩa chất gây nghiện là “bất kỳ loại chất nào sau khi được hấp thu vào cơ thể có khả năng làm thay đổi các chức năng sống thông thường”. Theo luật Phòng chống ma túy của Việt Nam thì “chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng”. Trong nghiên cứu của học viên, thuật ngữ chất gây nghiện được sử dụng để chỉ các chất gây nghiện giảm trì thần kinh dạng amphetamine (ATS) gồm các loại hồng phiến (methamphetamine dạng viên), đá (methamphetamine dạng tinh thể) và thuốc lắc (Estacy, MDMA)[2] 1. Thực trạng hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên 1.
Hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên trên thế giới 1. Các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông và hành vi bạo lực Các hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông Tai nạn giao thông là chấn thương không chủ ý có tỷ lệ cao nhất so với các nhóm chấn thương không chủ ý khác như bỏng, ngã, đuối nước, ngộ độc[52]. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), tai nạn giao thông đứng thứ 8 trong số các nguyên nhân gây tử vong trên thế giới và là nguyên nhân gây chấn thương, tử vong hàng đầu ở thanh thiếu niến độ tuổi từ 10-24.000 người dưới 25 tuổi chết do tai nạn giao thông, trung bình có hơn 1000 người chết mỗi ngày, gánh nặng do tai nạn giao thông tiêu tốn hàng tỉ đô la mỗi năm và để lại hậu quả nặng nề ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn cầu. Dự đoán đến năm 2030, nếu không có những can thiệp kịp thời thì tai nạn giao thông sẽ là một trong năm nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới[52, 57].
Báo cáo thế giới về phòng ngừa tai nạn giao thông cho biết 60% chấn thương và tử vong do tai nạn giao thông tập trung ở nhóm tuổi 15-44, chủ yếu là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (90%), tỷ lệ này gấp gần 2 lần so với các nước có thu nhập cao và 9 hầu hết các trường hợp này tập trung ở nhóm dễ bị tổn thương khi tham gia giao thông như: người đi bộ, đi xe đạp hoặc xe mô tô (50%)[57]. Báo cáo này cũng chỉ ra rằng, 5 yếu tố nguy cơ dẫn đến chấn thương và tử vong khi tham gia giao thông đó là: tốc độ lái xe, uống rượu bia khi lái xe, không dử dụng mũ bảo hiểm, không sử dụng dây an toàn và hạn chế trẻ em[57]. Trên thực tế, những rủi ro khi tham gia giao thông hoàn toàn có thể giảm thiểu được nếu người tham gia giao thông chấp hành đúng những quy định về an toàn khi tham gia giao thông.