Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ và các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về các hành động ngôn ngữ 1. Các tác giả nước ngoài Nói về các công trình nghiên cứu hành động ngôn ngữ (có người gọi là “hành động ngôn từ”, “hành vi ngôn ngữ”) của các tác giả nước ngoài, không thể không nhắc đến một số nhà ngôn ngữ học với những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: - J.
Austin là người có công đầu trong việc xây dựng lí thuyết hành động ngôn từ. Lí thuyết này được thể hiện trong 12 chuyên đề giảng dạy ở Đại học Havard, sau này được học trò của ông tập hợp trong cuốn “How to do things with words” (Hành động như thế nào bằng lời nói). Searle là người đã kế thừa và phát triển lí thuyết hành động ngôn từ của J. Ông khẳng định bản chất hành động của mỗi lời nói thông qua việc chỉ ra các phương tiện nhận diện lực ngôn trung trong câu.
Để khắc phục những hạn chế của J. Searle đã đưa ra một hệ thống gồm 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn từ, ngoài ra ông cũng xác lập một hệ thống thuận ngôn (bao gồm nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản). Đây là những đóng góp to lớn của tác giả trong việc phát triển lí luận về hành động ngôn từ. Wierzbicka với công trình nghiên cứu mang tên “English speech act verbs - a semantic dictionary” đã phân loại hành động ngôn từ khá chi tiết dựa trên cơ sở 270 vị từ - động từ nói năng (speech act verbs).
Các vị từ này được bà qui về 37 nhóm, tiêu biểu là: ra lệnh (order), cầu xin (ask1), hỏi (ask2), mời gọi (call), cấm (forbid), cho phép (permit), tranh cãi (argue), trách mắng (reprimand),. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan trọng là trong quá trình miêu tả và giải thích, tác giả đã bám theo những tiêu chí của điều kiện thuận ngôn như: cương vị của Sp1 và Sp2; Sp1 dùng chiến lược nào (lí trí hay tình cảm) để hành động; Sp2 có quyền từ chối việc thực hiện hành động được nêu trong nội dung mệnh đề hay không; khi công việc hoàn tất, người hưởng lợi là Sp1 hay Sp2. - Ngoài ba nhà ngôn ngữ học kể trên, còn một số nhà nghiên cứu kế tục công việc phân loại hành động ngôn từ của J. Song do khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không thể bàn thêm về các căn cứ phân loại cũng như quan điểm của các tác giả này.
Các tác giả trong nước Có nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm đến lí thuyết hành động ngôn ngữ, xin được giới thiệu hai tác giả tiêu biểu: - Tác giả Đỗ Hữu Châu là một trong những dịch giả và cũng là tác giả dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về hành động ngôn ngữ (xin nói thêm, hành động ngôn ngữ được tác giả gọi bằng cái tên khác là hành vi ngôn ngữ). Không chỉ chuyển tải những quan điểm của J. Searle, tác giả Đỗ Hữu Châu còn nêu định nghĩa về hành vi ngôn ngữ và các vấn đề liên quan như: phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi, biểu thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp,. - Tác giả Nguyễn Đức Dân, ngoài những nội dung giới thiệu quan điểm của J.
Searle, còn chỉ ra những hiện tượng mơ hồ giữa vị từ ngôn hành (tác giả dùng thuật ngữ động từ ngữ vi) và động từ trần thuật, giữa câu ngữ vi và câu trần thuật để từ đó đề xuất một số cách phân biệt hai loại câu này. Tổng quan tình hình nghiên cứu các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết Có thể nói, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hay gián tiếp bàn về hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết, dưới đây là một số công trình tiêu biểu (xin liệt kê theo năm công bố): 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bài báo Hành vi cam kết và các động từ biểu thị hành vi cam kết in trên “Tạp chí Ngôn ngữ, số 5, 2006” của tác giả Vũ Tố Nga đã chỉ ra khái niệm hành vi cam kết và các động từ biểu thị hành vi cam kết. Đồng tác giả còn có bài báo “Sự kiện lời nói và sự kiện lời nói cam kết trong hội thoại” (Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 5 (31), tháng 9- 2014) đã đưa ra khái niệm sự kiện lời nói và nghiên cứu về sự kiện lời nói cam kết trong hội thoại. Bài báo đã xây dựng khái niệm sự kiện lời nói cam kết, cấu trúc của sự kiện lời nói cam kết bao gồm cấu trúc tổng thể và cấu trúc lõi.
Ngoài ra, tác giả Vũ Tố Nga còn có công trình “Các thành phần của một biểu thức ngữ vi cam kết tường minh” (Đỗ Hữu Châu - Hành trình và tiếp nối, NXB ĐHQGHN, HN - 2015) đã miêu tả, phân tích chi tiết về các thành phần tạo nên một biểu thức ngữ vi cam kết tường minh: người nói; động từ biểu thị hành vi cam kết; người, đối tượng tiếp nhận hoặc chứng kiến hành vi cam kết và nội dung mệnh đề. Có thể thấy tác giả Vũ Tố Nga đã có sự nghiên cứu chuyên sâu về hành động cam kết. Từ đó, góp phần đem đến cho người đọc một cái nhìn tổng thể và làm sáng tỏ thêm về hành động ngôn ngữ này. Luận văn Thạc sĩ “Khảo sát hành động hứa hẹn và các phương thức biểu hiện nó” (Trên ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh) (2009) của tác giả Vũ Thị Minh Thu đã vận dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại… đưa ra một cái nhìn bao quát và cụ thể về hành động hứa hẹn và các phương thức biểu hiện nó và có so sánh với tiếng Anh để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong hai nền văn hóa.
Công trình này đã đưa ra cách phân loại hành động hứa hẹn theo nội dung: hứa hẹn thuộc phạm trù giúp đỡ, nhượng bộ, hứa hẹn thuộc phạm trù mời chào và hứa hẹn thuộc phạm trù giao kèo, thề bồi. Luận án Tiến sĩ “Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng Việt” (2013) của tác giả Nguyễn Thị Thu Nga đã vận dụng các lý thuyết về hành động ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của hành động thề. Từ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, tác giả đưa ra một số đặc trưng văn hóa dân tộc qua lời thề và một số đặc trưng của việc sử dụng lời thề trong giao tiếp của người Việt hiện nay. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với các công trình dẫn trên một lần nữa khẳng định đã có các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm đến hành động ngôn ngữ nói chung và hành động thuộc lớp Cam kết trong tiếng Việt nói riêng.
Song chưa có công trình nào nghiên cứu về các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết qua lời thoại của nhân vật trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 một cách bài bản. Như vậy, căn cứ vào tình hình thực tiễn nghiên cứu về hành động ngôn ngữ nói chung và các hành động hứa hẹn, cam kết, thề nói riêng, ở luận văn này chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu hành động ngôn từ của nhân vật trong tác phẩm văn chương cụ thể là các hành động ngôn ngữ thuộc lớp Cam kết về các phương diện: hành động ở lời, phương thức thể hiện và nghiên cứu các hành động ngôn ngữ này từ góc nhìn lý thuyết hội thoại. Lí thuyết về ngữ cảnh 1. Khái niệm ngữ cảnh Theo từ điển Encyclopedia of Language and Linguisticsđịnh nghĩa: “Ngữ cảnh (situtional context; context of situation; context de situation) là bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)”.
Các nhân tố thuộc ngữ cảnh Các nhân tố của ngữ cảnh thường được nói tới là: - Nhân vật giao tiếp: Nhân vật giao tiếp bao gồm người nói (viết) và người nghe (đọc). Mỗi người có một vị thế nhất định: vị thế XH (trên, dưới, bình đẳng), vị thế giao tiếp (quyền chủ động hay bị động). Các vị thế này hình thành quan hệ giao tiếp (thân mật, gần gũi, khách sáo quan cách, nhiệt tình, hờ hững…). - Hoàn cảnh giao tiếp: Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp.
- Hiện thực được nói tới: Đó có thể là hiện thực bên ngoài các nhân vật giao tiếp hoặc là hiện thực tâm trạng của con người. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ngữ huống: Những thay đổi theo diễn biến của cuộc giao tiếp: nhân vật giao tiếp mới xuất hiện, nhân vật giao tiếp cũ không tiếp tục tham gia giao tiếp nữa, trạng thái tâm lí, trạng thái hiểu biết, ý đồ, đề tài. - Văn cảnh: Văn cảnh bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ như âm, tiếng, từ ngữ, câu. cùng có mặt trong văn bản, đi trước hoặc đi sau một yếu tố ngôn ngữ nào đó đang được xem xét.
Mỗi một nhân tố trên đóng vai trò nhất định trong việc tạo lập lời nói phù hợp và giúp lĩnh hội đầy đủ, thấu đáo lời nói của người mà mình giao tiếp. Vai trò của ngữ cảnh trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ Ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập văn bản và lĩnh hội văn bản. Đối với quá trình sản sinh văn bản (nói, viết): Ngữ cảnh chính là môi trường sản sinh ra các phát ngôn giao tiếp, nó chi phối cả hình thức và nội dung của phát ngôn. Việc dùng từ đặt câu phải phù hợp về ngữ nghĩa và ngữ pháp với các từ ngữ khác được dùng trong văn bản, phải phù hợp với quan hệ giữa người viết và người đọc (về vị thế, về quan hệ thân sơ, trạng thái tâm lí…), phải phù hợp với cách thức giao tiếp (viết hay nói) và tình huống giao tiếp cụ thể (giao tiếp có tính chất nghi lễ hay không có tính chất nghi lễ).
Ngoài ra còn cần phải chú ý đến hoàn cảnh giao tiếp. Vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc giao tiếp. Chẳng hạn, ở Việt Nam khi mới gặp nhau lần đầu người ta hay hỏi nhau về tuổi tác để xưng hô cho đúng. Nhưng ở một số nước trên thế giới việc hỏi tuổi lại bị coi là khiếm nhã.
Vì thế việc tìm hiểu phong tục tập quán, nét văn hóa nơi mình giao tiếp cũng là việc rất quan trọng.