Luận văn thạc sĩ về hành động mời trong tiếng Việt và tiếng Hán

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh hành động mời trong tiếng việt và tiếng hán, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2014

170
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

Bảng viết tắt

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Hành vi ngôn ngữ

1.2. Giới thiệu chung

1.3. Các loại hành vi ngôn ngữ

1.4. Phân loại các hành vi ở lời

1.5. Hành vi ở lời trực tiếp và gián tiếp

1.6. Giao tiếp và các nhân tố của giao tiếp

1.7. Các nhân tố của giao tiếp

1.8. Lý thuyết về lịch sự

1.9. Chiến lược lịch sự

1.10. Lý thuyết về nguyên tắc lịch sự tiếng Hán

1.11. Hành động mời

1.12. Ngữ cảnh giao tiếp của hành động mời

1.13. Các kiểu phát ngôn mời tiếng Việt và tiếng Hán

1.14. Lý thuyết về nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ

2. CHƯƠNG 2: PHÁT NGÔN MỜI TRỰC TIẾP TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN

2.1. Phát ngôn mời trực tiếp tiếng Việt

2.2. Phát ngôn mời trực tiếp có TXH tiếng Việt

2.3. Phát ngôn mời trực tiếp tiếng Hán

2.4. Phát ngôn mời trực tiếp có TXH tiếng Hán

2.5. Phát ngôn mời trực tiếp không có TXH tiếng Hán

2.6. So sánh phát ngôn mời trực tiếp tiếng Việt và tiếng Hán

3. CHƯƠNG 3: PHÁT NGÔN MỜI GIÁN TIẾP TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN

3.1. Phát ngôn mời gián tiếp tiếng Việt

3.2. Phát ngôn mời gián tiếp có TXH tiếng Việt

3.3. Phát ngôn mời gián tiếp không có TXH tiếng Việt

3.4. Phát ngôn mời gián tiếp tiếng Hán

3.5. Phát ngôn mời gián tiếp có TXH tiếng Hán

3.6. Phát ngôn mời gián tiếp không có TXH tiếng Hán

3.7. So sánh phát ngôn gián tiếp tiếng Việt và phát ngôn mời gián tiếp tiếng Hán

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hành động mời trong tiếng Việt và tiếng Hán

Nghiên cứu hành động mời trong tiếng Việt và tiếng Hán là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học, đặc biệt trong bối cảnh giao tiếp liên văn hóa. Hành động mời không chỉ đơn thuần là một hành động ngôn từ mà còn phản ánh những đặc trưng văn hóa sâu sắc của mỗi ngôn ngữ. Việc so sánh hành động mời giữa hai ngôn ngữ này giúp làm rõ hơn những khác biệt và tương đồng trong cách thức giao tiếp của người Việt và người Trung Quốc.

1.1. Định nghĩa hành động mời trong ngôn ngữ học

Hành động mời được định nghĩa là một loại hành vi ngôn ngữ nhằm yêu cầu hoặc khuyến khích người khác tham gia vào một hoạt động nào đó. Trong tiếng Việt và tiếng Hán, hành động này có thể được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau, từ trực tiếp đến gián tiếp.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu hành động mời

Nghiên cứu hành động mời không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc phát triển kỹ năng giao tiếp hiệu quả trong môi trường đa văn hóa. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu hành động mời

Mặc dù hành động mời là một phần quan trọng trong giao tiếp, nhưng việc nghiên cứu nó gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là sự khác biệt trong cách thức thể hiện hành động mời giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Điều này có thể dẫn đến hiểu lầm trong giao tiếp giữa hai nền văn hóa.

2.1. Khó khăn trong việc so sánh hành động mời

Việc so sánh hành động mời giữa tiếng Việt và tiếng Hán gặp khó khăn do sự khác biệt về ngữ nghĩa và ngữ cảnh sử dụng. Các yếu tố văn hóa cũng ảnh hưởng lớn đến cách thức thể hiện hành động này.

2.2. Ảnh hưởng của văn hóa đến hành động mời

Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cách thức mời. Người Việt và người Trung Quốc có những quy tắc và phong tục khác nhau trong giao tiếp, điều này cần được xem xét kỹ lưỡng trong nghiên cứu.

III. Phương pháp nghiên cứu hành động mời hiệu quả

Để nghiên cứu hành động mời trong tiếng Việt và tiếng Hán, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại. Các phương pháp này bao gồm phân tích ngữ liệu, so sánh đối chiếu và khảo sát thực tế.

3.1. Phân tích ngữ liệu từ thực tế giao tiếp

Phân tích ngữ liệu từ các đoạn hội thoại thực tế giúp hiểu rõ hơn về cách thức hành động mời được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Điều này cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngữ nghĩa và ngữ cảnh của hành động mời.

3.2. So sánh đối chiếu giữa hai ngôn ngữ

So sánh đối chiếu hành động mời giữa tiếng Việt và tiếng Hán giúp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt. Phương pháp này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn về văn hóa của mỗi quốc gia.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu hành động mời

Kết quả nghiên cứu hành động mời có thể được ứng dụng trong việc dạy và học ngôn ngữ. Việc hiểu rõ cách thức mời trong từng ngôn ngữ sẽ giúp người học giao tiếp hiệu quả hơn trong môi trường đa văn hóa.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc

Việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc giúp họ hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp và hành động mời trong văn hóa Việt Nam.

4.2. Ứng dụng trong giảng dạy tiếng Hán cho người Việt

Tương tự, việc nghiên cứu hành động mời trong tiếng Hán cũng có thể giúp sinh viên Việt Nam nắm bắt được các quy tắc giao tiếp trong văn hóa Trung Quốc, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp của họ.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu hành động mời

Nghiên cứu hành động mời trong tiếng Việt và tiếng Hán không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn lớn. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tiếp tục mở rộng, đặc biệt trong bối cảnh giao lưu văn hóa ngày càng gia tăng giữa hai quốc gia.

5.1. Tương lai của nghiên cứu hành động mời

Nghiên cứu hành động mời sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhau như ngôn ngữ học ứng dụng và giao tiếp liên văn hóa.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phân tích sâu hơn về hành động mời trong các ngữ cảnh khác nhau, từ đó làm phong phú thêm lý thuyết ngôn ngữ học.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương 2: Phát ngôn mời trực tiếp trong tiếng Việt và tiếng Hán. Chương 3: Phát ngôn mời gián tiếp trong tiếng Việt và tiếng Hán Kết luận 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Hành vi ngôn ngữ 1. Giới thiệu chung Vào những năm 50, 60 của thế kỷ XX, các nhà triết học và ngôn ngữ học đều quan niệm rằng chức năng quan trọng của ngôn ngữ đó là chức năng miêu tả, hay chức năng xây dựng những nhận định có thể đánh giá đúng hay sai.

Những phát ngôn miêu tả ở dạng này về mặt ngữ nghĩa đều có thể đánh giá theo tiêu chuẩn logic đúng – sai. Cũng trong thời gian này, một nhà triết học người Anh là J.L Austin đã phê phán quan điểm trên của các nhà triết học và ngôn ngữ học lúc bấy giờ. Ông đã chỉ ra một khía cạnh nghĩa quan trọng khác, nếu không nói là quan trọng nhất của câu nói. Đó là nghĩa liên nhân (interpersonal meaning), hay còn gọi là nghĩa tương tác xã hội.

Austin là một trong những người đặt nền móng cho lý thuyết về hành vi ngôn ngữ đó là “nói” cũng chính là “làm”, hay nói năng là một loại hành động đặc biệt: hành động bằng lời. Tư tưởng cốt lõi của Austin được thể hiện qua các nội dung sau: Thứ nhất, ông đã phân biệt giữa phát ngôn miêu tả hay tường thuật (constative) với phát ngôn ngôn hành (performative). Chúng ta có thể bắt gặp những phát ngôn giống như những phát ngôn miêu tả về hình thức nhưng về mặt ngữ nghĩa thì không thể đánh giá được theo tiêu chuẩn đúng – sai. Ví dụ, trong tiếng Việt chúng ta có thể gặp những phát ngôn như: a.

Đi du lịch vào mùa xuân thú vị hơn mùa hè.Tôi đảm bảo ngày mai sẽ trả tiền cho cậu. Những kiểu phát ngôn như ví dụ a chúng ta không thể phân biệt được đúng – sai bởi nó còn phụ thuộc vào sở thích, quan điểm của mỗi cá nhân, không phải ai cũng đồng ý với nhận định này. Còn ở ví dụ b lại không thể hiện một miêu tả hay tường thuật nào cả để có thể đánh giá đúng – sai mà là đang “đảm bảo” tức là cam kết thực hiện một hành động nào đó trong tương lai. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, Austin đã không phân biệt phát ngôn tường thuật với phát ngôn ngôn hành nữa mà ông cho rằng tất cả các phát ngôn đều là phát ngôn ngôn hành, tất cả các phát ngôn miêu tả / tường thuật cũng là những phát ngôn ngôn hành.

Ví dụ như phát ngôn: “Chiều nay trời trở lạnh” sẽ được hiểu như một dạng của câu: Tôi xác nhận chiều nay trời trở lạnh. Austin cho rằng tất cả các phát ngôn miêu tả đều mang tính ngôn hành theo kiểu như vậy. Tư tưởng chính trong quan điểm của Austin đó chính là khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói ra một phát ngôn nào đó cho người nghe trong một bối cảnh nhất định.

Bối cảnh này chính là khuôn khổ của những thiết chế, những qui ước xã hội mà các thành viên tham gia giao tiếp đều chấp nhận. Các loại hành vi ngôn ngữ Hành vi ngôn ngữ là hành động được thực hiện nhờ phương tiện ngôn ngữ. Theo Austin, hành vi ngôn ngữ gồm ba loại chính đó là: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời. - Hành vi tạo lời: là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ và các qui tắc của ngôn ngữ để tạo ra phát ngôn với một hình thức nhất định và nội dung tương ứng với cuộc giao tiếp cụ thể.

- Hành vi mượn lời: là hành vi phát ra lời nói nhằm đạt đến một hiệu quả nằm ngoài ngôn ngữ cho các nhân vật giao tiếp. Ví dụ khi nghe một phát ngôn: Nó sốt mấy hôm nay rồi. Có người sẽ tỏ ra cảm thông, chia sẻ, cũng có người lại bày tỏ thái độ khác như vui mừng, sung sướng…Có thể xuất hiện nhiều hiệu quả ở các nhân vật giao tiếp. Những hiệu quả mượn lời rất phân tán, không thể tính toán được bởi chúng không có qui ước.

- Hành vi ở lời: là hành vi người nói thực hiện ngay trong lời nói của mình và hiệu quả ngôn ngữ của chúng nằm ngay trong phát ngôn được nói ra. Ví dụ về hành vi ở lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn, khuyên bảo…Khi chúng ta mời ai đó làm gì thì người tiếp nhận có thể từ chối hoặc đồng ý thực hiện hành động mà 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người nói yêu cầu; hay khi ta hỏi ai về việc gì thì người được hỏi có nhiệm vụ trả lời chúng ta cho dù họ không biết. Nếu không đáp lại thì sẽ bị cho là không lịch sự. Phân loại các hành vi ở lời Về việc phân loại các hành vi ở lời, rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các phạm trù để phân loại hành vi ở lời như Wittgenstein, Austin, Searle, K.Allan…Trong đó nổi bật lên là hai tác giả Austin và Searle.

Phân loại của Austin: có 5 phạm trù: - Phán xử (verditives, verditifs) Đây là những hành vi đưa ra những lời phán xét (verdicts) về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc dựa vào lí lẽ vững chắc như: xử trắng án, xem là, tính toán, miêu tả, phân tích, đánh giá, phân loại, cho là, nêu đặc điểm v.v… - Hành xử (exercitives, exercitifs) Đây là những hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó: ra lệnh, chỉ huy, biện hộ cho, khẩn cầu, đặt hàng, giới thiệu, van xin… - Cam kết (commissives, commissifs) Những hành vi này ràng buộc người nói vào chuỗi những hành động nhất định như: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, giao ước, bảo đảm, thế quyền, thông qua các qui ước, tham gia một phe nhóm… - Trình bày (expositives, expositifs) Những hành vi này được dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng định, phủ định, chối, trả lời… - Ứng xử (behabitives, comportementaux) Đây là những hành vi phản ứng với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác: xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán… Phân loại của Searle: Ông cho rằng trong cách phân loại của Austin không định ra các tiêu chí phân loại nên kết quả phân loại có khi dẫm đạp lên nhau. Ông cho rằng trước hết cần phải phân loại các hành vi ở lời chứ không phải phân loại các động từ gọi tên chúng, và ông đã xác lập 12 tiêu chí phân loại : 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đích ở lời : ví dụ người nói đưa người nghe đến thực hiện một cái gì đó; một hứa hẹn nhằm ràng buộc người nói vào việc thực hiện một cái gì đó. - Hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến: ví dụ như trong một phát ngôn trần thuật sẽ có hướng khớp lời – hiện thực vì giá trị đúng sai mà nó nêu ra được xác định trên cơ sở lời miêu tả có phù hợp với sự vật được nói tới. - Trạng thái tâm lý được thể hiện: ví dụ một phát ngôn trần thuật tỏ ra là người nói tin vào lời hứa, hứa hẹn thể hiện ý định của người nói thực hiện một cái gì đó.

- Sức mạnh mà đích được trình bày ra : ví dụ như nhấn mạnh, gợi ý… - Tính quan yếu của mối liên hệ cá nhân giữ người nói và người nghe. Ví dụ như một số hành vi như mệnh lệnh, sai bảo thể hiện được rõ mối quan hệ liên cá nhân, - Định hướng: hướng phát ngôn vào đối tượng là người nói hay người nghe. Ví dụ: phàn nàn hướng vào người nói, chúc mừng hướng vào người nghe. - Câu hỏi và trả lời là hai thành phần của một cặp kế cận.

- Nội dung mệnh đề: ví dụ khi người nghe thực hiện một hành động nào đó là đặc trưng của nội dung mệnh đề là sai bảo, còn khi người nói thực hiện một hành động nào đó thì nội dung mệnh đề là hứa hẹn. - Hứa hẹn chỉ có thể thực hiện bằng lời - Đặt tên thánh và rút phép thông công đòi hỏi phải có thể chế xã hội mới có hiệu lực nhưng trần thuật thì không đòi hỏi như vậy. - Không phải tất cả các động từ gọi tên hành vi ở lời đều là động từ ngữ vi. - Phong cách thực hiện hành vi ở lời: mỗi một hành vi được thực hiện bởi các phong cách khác nhau.

Ví dụ phong cách tuyên bố sẽ khác với phong cách thổ lộ. Căn cứ vào 12 tiêu chí mà Searle đã xác lập được, ông đưa ra 5 loại phạm vi ở lời: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tái hiện (representatives) Đích ở lời là miêu tả một sự tình đang được nói đến. Hướng khớp ghép là lời – hiện thực, trạng thái tâm lý là niềm tin vào điều mình xác tín, nội dung mệnh đề là một mệnh đề. - Điều khiển (directives, directifs) Đích ở lời là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai.

Hướng khớp ghép là hiện thực – lời, trạng thái tâm lý là sự mong muốn của người nói và nội dung mệnh đề là hành động của người nghe. Ví dụ như hỏi, mời, yêu cầu, ra lệnh… - Cam kết (commissives, commissifs) Đích ở lời là người nói phải thực hiện một hành động, hướng khớp ghép là hiện thực – lời, trạng thái tâm lý là ý định của người nói, nội dung mệnh đề là hành động của người nói. Ví dụ: hứa hẹn, tặng, cho… - Biểu cảm (expressives, expressifs) Đích ở lời là bày tỏ trạng thái tâm lý đối với hành vi ở lời. Trạng thái tâm lý thay đổi tùy theo từng loại hành vi, nội dung mệnh đề là một hành động hay một tính chất nào đó của người nói hoặc người nghe.

Ví dụ: khen ngợi, cảm ơn, xin lỗi, phê bình… - Tuyên bố (declarations, declaratifs) Đích ở lời nhằm làm cho có tác dụng nội dung của hành vi, hướng khớp ghép vừa là lời – hiện thực, vừa là hiện thực – lời, nội dung mệnh đề là một mệnh đề. Ví dụ: tuyên án, công bố, cáo buộc… Như vậy, dựa vào cách phân loại của Searle thì hành động mời thuộc phạm trù điều khiển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ