PHẦN MỞ ĐẦU Với nhận thức Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là chìa khoá quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã tập trung đầu tư cho sự nghiệp giáo dục theo hướng khoa học và hiện đại [12]. Đào tạo nguồn nhân lực đã đặt ra những yều cầu cấp bách: Vừa phải trang bị những tri thức, kỹ năng mới, vừa phải thay đổi công nghệ và cách làm. Nhà trường từ chỗ đào tạo khép kín chuyển sang mở, gắn bó với chặt chẽ với khoa học - công nghệ và ứng dụng [24] Từ những định hướng trên cho thấy, giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu xã hội cần đảm bảo các yếu tố: Đổi mới giáo dục đại học phải đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu về sử dụng lao động. Gắn đào tạo với thực tiễn sử dụng lao động của nhà sản xuất và doanh nghiệp, bởi vì nơi sử dụng nguồn lực lao động là nơi đưa ra các yêu cầu về đào tạo [26].
Do đó, cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng lao động cần có sự phối hợp trong việc xây dựng chương trình đào tạo, phương hướng đào tạo và tổ chức quản lý đào tạo [13], [25]. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trương ương khoá XI (2003), về đổi mới căn bản toàn diên giáo dục, đã xác định phương hướng, biện pháp đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam phải gắn với sử dụng, trực tiếp phục vụ đào tạo chuyển đổi cơ cấu lao động, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành [4]. Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường, giáo dục đại học phải đáp ứng những yêu cầu và hoạt động của các nhà sản xuất và doanh nghiệp [33], [34]. Thông báo số 242-TB/TW kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết TW 2 (Khóa VIII) và phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 đã chỉ rõ: Chương trình, giáo trình chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp.
Thực trạng lạc hậu về chương trình đào tạo có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân rất cơ bản là công tác nghiên cứu và ứng dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 trong phát triển chương trình đào tạo trong nhiều năm qua chưa được quan tâm đúng mức [2]. GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao năng lực làm việc và kéo dài tuổi thọ; Là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người và đặc biệt là hình thành kỹ năng vận động sống. Trong đó, GDTC mang “tính nghề” hiện đang là hoạt động chủ đạo trong nghiên cứu về đổi mới nội dung và hình thức. Hướng tới góp phần rèn luyện tri thức và kỹ năng phục hoạt động nghề nghiệp [20], [21], [38].
Vì vậy, áp dụng các phương tiện TDTT với các biện pháp tích cực trong việc hình thành kĩ năng nghề, tác động đến các yếu tố tâm, sinh lí nghề và phát triển thể lực chuyên môn nghề nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả và tăng năng suất lao động là nội dung phương tiện GDTC nghề có ý nghĩa quan trọng trong công tác đào tạo công nhân lành nghề chất lượng cao ở các trường dạy nghề Việt Nam, là yêu cầu cấp thiết đối với đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay [38]. Đi biển là một nghề đặc thù, hệ thống đào tạo cán bộ, thuyền viên của Việt Nam vừa phải đáp ứng yêu cầu của Công ước quốc tế (STCW) và các quy định hiện hành của quốc gia. Đã có một chiến lược của quốc gia về phát triển ngành Vận tải biển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, thì đi kèm theo phải có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực phục vụ lĩnh vực đó [3], [11], [30]. Từ cơ sở tiếp cận cho thấy, GDTC nói chung và GDTC chuyên biệt cho ngành đi biển là một yêu cầu bức thiết cho chuẩn bị nguồn nhân lực phát triển kinh tế biển, phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhập quốc tế, tôi triển khai nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nội dung giáo dục thể chất chuyên biệt cho sinh viên ngành đi biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam”.
Mục đích nghiên cứu: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, thiết kế nội dung giáo dục thể chất chuyên biệt (Cấu trúc nội dung học trình Bơi thực dụng và cứu đuối; Lựa chọn bài tập thể lực chuyên biệt), đáp ứng nhu cầu tác nghiệp, làm việc cho sinh viên Ngành đi biển, Trường ĐHHH Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu: Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên, đề tài xác định giải quyết hai mục tiêu sau: Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng giáo dục thể chất và xây dựng tiêu chuẩn phát triển thể chất chuyên biệt cho sinh viên Ngành đi biển, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam: Đánh giá thực trạng GDTC và thể thao, thực trạng giáo dục thể lực nghề nghiệp của Trường ĐHHH Việt Nam; Đánh giá thực trạng phát triển thể chất sinh viên; Lựa chọn test, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá PTTC chuyên biệt ngành đi biển. Mục tiêu 2: Lựa chọn nội dung giáo dục thể chất chuyên biệt và đánh giá hiệu quả ứng dụng nội dung giáo dục chuyên biệt cho sinh viên Ngành đi biển, Trường ĐHHH Việt Nam: Cấu trúc học trình Bơi thực dụng và cứu đuối và lựa chọn hệ thống bài tập thể lực chuyên biệt cho sinh viên Ngành đi biển; Đánh giá hiệu quả ứng dụng nội dung GDTC chuyên biệt cho sinh viên ngành đi biển. Giả thuyết khoa học: Các công trình nghiên cứu khoa học chỉ ra: Các bài tập TDTT được lựa chọn và áp dụng có hệ thống tác động chuyên biệt và không chuyên biệt lên cơ thể trong quá trình hình thành kĩ năng kĩ sảo vận động, nâng cao được tính ổn định của cơ thể trong các thao tác lao động trước những tác động bất lợi của điều kiện bên ngoài.
Vì vậy, nếu cấu trúc nội dung GDTC chuyên biệt sẽ đáp ứng nhu cầu tác nghiệp, làm việc cho sinh viên Ngành đi biển. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vai trò và những yếu tố cấu thành của thể dục thực dụng nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục thể chất 1.
Vai trò của thể dục thực dụng nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục thể chất Các bài tập TDTT là nhân tố cơ bản khắc phục hậu quả xấu của trạng thái ít hoạt động và sự căng thẳng về trí lực cho họ. GDTC cho sinh viên nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể như sau [20], [21]: Củng cố và giữ gìn sức khỏe, phát triển thể chất bình thường và duy trì năng lực hoạt động cao. Phát triển toàn diện các tố chất thể lực cơ bản để chuẩn bị bước vào cuộc sống lao động, trong đó quan trọng nhất là đạt được các chỉ tiêu trong chế độ rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành. Củng cố và hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo vận động quan trọng đối với cuộc sống và bổ sung thêm những kỹ năng kỹ xảo mới, trong đó có các kỹ năng kỹ xảo thực dụng nghề nghiệp được lựa chọn.
Sử dụng hợp lý các phương tiện TDTT trong cuộc sống cá nhân và trong chế độ hoạt động lao động. Theo đó, thể dục thực dụng và nghề nghiệp là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện TDTT nói chung, được sử dụng với mục đích giáo dục những năng lực thể chất thích hợp với những đòi hỏi chuyên biệt của một nghề nghiệp nhất định và trang bị những kỹ năng kỹ xảo vận động quan trọng đối với nghề nghiệp [18], [68], [78]. Hiện nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm nảy sinh thêm hàng trăm ngành nghề khác nhau, nên sự chuyên môn hóa theo ngành nghề trong quá trình GDTC có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn đối với xã hội, là nhân tố trực tiếp nâng cao kết quả đào tạo chuyên gia, rút ngắn thời gian hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp và nâng cao năng lực hoạt động của con người trong những điều kiện lao động phức tạp, để nâng cao năng suất lao động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Ở nhiều nước trên thế giới và ngay cả nước ta, hoạt động của các trường đại học gắn liền với hoạt động của thực tiễn lao động nhằm đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất [26], [33].
Ở nhiều trường đại học, nhờ tích lũy được những kinh nghiệp thực tiễn trên cơ sở nghiên cứu khoa học, đã hình thành được những phương pháp và hình thức tập luyện thể dục thực dụng và nghề nghiệp, chuẩn bị tốt thể lực cho sinh viên, giải quyết có hiệu quả quá trình gắn nhà trường với thực tiễn xã hội, đem lại hiệu quả kinh tế cho đất nước [50], [68], [67]. Như vậy chuẩn bị thể lực thực dụng nghề nghiệp cho sinh viên có vị trí quan trọng trong chương trình GDTC của các trường đại học và chuyên nghiệp, đặc biệt ở những trường đào tạo những chuyên gia mà hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi phải có trình độ chuẩn bị thể lực chuyên môn cao như các ngành địa chất, hàng hải, lâm nghiệp v. Những yếu tố cấu thành thể dục thực dụng nghề nghiệp Quan hệ giữa con người và sản xuất là mối quan hệ hữu cơ. Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển làm thay đổi tính chất và điều kiện lao động, đòi hỏi con người làm việc trong một nền sản xuất mới có những năng lực ngày càng hoàn thiện hơn.
Con người luôn luôn là lực lượng sản xuất chính của xã hội. Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nhiều ngành nghề làm cho chức năng và vị trí của con người trong sản xuất phải thay đổi. Con người cần được chuẩn bị chuyên môn cho thích ứng với những chức năng ngành nghề mới – đồng thời phải được chuẩn bị thể lực nghề nghiệp tương ứng để loại trừ mâu thuẫn giữa những điều kiện kỹ thuật với năng lực con người sử dụng chúng [84]. Vì vậy yếu tố chung để hình thành thể dục thực dụng và nghề nghiệp là quan hệ giữa con người với trình độ sản xuất.