Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm giải phẫu và kỹ thuật xử lý các bất thường mạch máu ở bệnh nhân ghép thận tại bệnh viện hữu nghị việt đức

Luận án tiến sĩ y tế phân tích nghiên cứu đặc điểm giải phẫu và kỹ thuật xử lý các bất thường mạch máu ở bệnh nhân ghép thận tại, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Ngoại Lồng Ngực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2020

157
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đặc điểm giải phẫu mạch máu thận liên quan đến ghép thận

1.2. Động mạch thận

1.2.1. Giải phẫu bình thường của động mạch thận

1.2.2. Các hình thái biến đổi giải phẫu của động mạch thận

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm chung

3.1.1. Tuổi - giới người nhận thận

3.1.2. Tuổi - giới người hiến thận

3.1.3. Quan hệ giữa người hiến thận và người nhận thận

3.1.4. Hòa hợp miễn dịch giữa người hiến và người nhận thận

3.1.5. Hình ảnh giải phẫu thận, mạch máu thận của người hiến trên siêu âm và chụp cắt lớp vi tính

3.2. Lựa chọn vị trí thận lấy để ghép từ người sống hiến thận

3.2.1. Lựa chọn vị trí lấy thận từ người sống hiến thận dựa trên kết quả đồng vị phóng xạ thận

3.2.2. Lựa chọn vị trí lấy thận dựa trên chụp cắt lớp vi tính động mạch thận

3.2.3. Tương quan giữa kết quả đồng vị phóng xạ và kết quả chụp cắt lớp vi tính động mạch của thận lấy

3.3. Phẫu thuật ghép thận

3.3.1. Đặc điểm mạch máu thận sau khi lấy ra để ghép

3.3.2. Vị trí đặt thận ghép

3.3.3. Vị trí làm miệng nối mạch máu khi ghép thận

3.3.4. Các phương pháp xử lý khi thận ghép có nhiều mạch máu

3.3.5. Kết quả phẫu thuật ghép thận từ người sống hiến thận với thận ghép có nhiều mạch máu

3.3.5.1. Tình trạng miệng nối mạch máu và tưới máu thận sau khi nối xong
3.3.5.2. Bài tiết nước tiểu của thận ghép sau khi tưới máu trở lại
3.3.5.3. Thời gian phẫu thuật và nằm viện sau phẫu thuật
3.3.5.4. Siêu âm thận ghép sau phẫu thuật
3.3.5.5. Chức năng thận ghép sau phẫu thuật
3.3.5.6. Khám theo dõi bệnh nhân sau ghép thận
3.3.5.7. Biến chứng ngoại khoa sau ghép thận

4. CHƯƠNG 4

4.1. Đặc điểm chung của người hiến và người nhận thận

4.2. Quan hệ giữa người hiến và người nhận thận

4.3. Hòa hợp miễn dịch giữa người hiến và người nhận thận

4.4. Đặc điểm giải phẫu mạch máu thận ghép

4.4.1. Đặc điểm giải phẫu mạch máu thận người hiến trước khi lấy thận

4.4.2. Lựa chọn vị trí thận lấy để ghép

4.4.3. Đặc điểm giải phẫu mạch máu và các phương pháp xử lý những bất thường mạch máu của thận ghép

4.4.3.1. Vị trí đặt thận ghép
4.4.3.2. Đặc điểm giải phẫu và kỹ thuật khâu nối, xử lý mạch máu trong ghép thận

4.5. Kết quả tưới máu thận ghép sau ghép thận từ người cho sống với thận ghép có nhiều mạch máu

4.5.1. Đánh giá tưới máu và bài tiết nước tiểu của thận ngay trong mổ

4.5.2. Kết quả sớm sau ghép thận

4.5.3. Kết quả phẫu thuật ghép thận

4.5.4. Biến chứng trong ghép thận

4.5.5. Theo dõi sau ghép thận

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm giải phẫu mạch máu thận liên quan đến ghép thận

Giải phẫu mạch máu thận đóng vai trò quan trọng trong quá trình ghép thận. Thông thường, cuống mạch thận bao gồm một động mạch và một tĩnh mạch. Động mạch thận thường tách ra từ động mạch chủ bụng, trong khi tĩnh mạch thận nằm ở vị trí trước hơn. Sự hiểu biết về cấu trúc này giúp các bác sĩ thực hiện phẫu thuật ghép thận một cách hiệu quả hơn. Đặc biệt, việc nhận diện các bất thường trong cấu trúc mạch máu thận có thể ảnh hưởng đến kết quả ghép. Theo nghiên cứu, khoảng 70-80% trường hợp thận được cấp máu bởi một động mạch duy nhất. Tuy nhiên, có những trường hợp thận có nhiều động mạch, điều này có thể gây khó khăn trong quá trình phẫu thuật. Việc nắm rõ các đặc điểm này là cần thiết để giảm thiểu biến chứng và nâng cao tỷ lệ thành công của ca ghép thận.

1.1 Động mạch thận

Động mạch thận có vai trò quan trọng trong việc cung cấp máu cho thận. Thông thường, động mạch thận phải dài hơn động mạch thận trái. Động mạch thận tách ra từ động mạch chủ bụng và đi vào thận qua rốn thận. Sự phân nhánh của động mạch thận cũng rất đa dạng, với nhiều nhánh nhỏ đi vào nhu mô thận. Các nghiên cứu cho thấy, sự thay đổi về số lượng và cấu trúc của động mạch thận có thể xảy ra do nhiều yếu tố, bao gồm cả di truyền và môi trường. Việc hiểu rõ về các biến đổi này giúp bác sĩ có thể đưa ra các phương pháp phẫu thuật phù hợp hơn, từ đó nâng cao hiệu quả của ca ghép thận.

II. Kỹ thuật khâu nối và xử lý các bất thường mạch máu trong ghép thận

Kỹ thuật khâu nối mạch máu trong ghép thận là một yếu tố quyết định đến sự thành công của ca phẫu thuật. Các bác sĩ cần phải nắm vững các phương pháp khâu nối để xử lý các bất thường mạch máu, đặc biệt là trong trường hợp thận có nhiều động mạch. Việc sử dụng các kỹ thuật hiện đại như khâu nối tận-tận hoặc tận-bên giúp cải thiện lưu lượng máu đến thận ghép. Nghiên cứu cho thấy, việc xử lý đúng cách các bất thường mạch máu có thể giảm thiểu nguy cơ biến chứng và nâng cao chức năng thận sau ghép. Các bác sĩ cũng cần phải theo dõi sát sao tình trạng tưới máu của thận ghép sau phẫu thuật để kịp thời phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh.

2.1 Các kiểu nối mạch máu trong ghép thận

Có nhiều kiểu nối mạch máu khác nhau trong ghép thận, tùy thuộc vào cấu trúc mạch máu của thận hiến. Các bác sĩ có thể lựa chọn giữa nối tận-tận, tận-bên hoặc các phương pháp khác để đảm bảo lưu lượng máu tối ưu cho thận ghép. Việc lựa chọn kiểu nối phù hợp không chỉ giúp cải thiện chức năng thận mà còn giảm thiểu nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật. Nghiên cứu cho thấy, các kiểu nối mạch máu phức tạp có thể làm tăng thời gian phẫu thuật, nhưng nếu được thực hiện đúng cách, chúng có thể mang lại kết quả tốt hơn cho bệnh nhân.

III. Biến chứng về mạch máu trong ghép thận

Biến chứng về mạch máu là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất trong ghép thận. Các biến chứng này có thể bao gồm tắc mạch, hẹp mạch hoặc thậm chí là hoại tử thận. Việc phát hiện sớm và xử lý kịp thời các biến chứng này là rất quan trọng để bảo vệ chức năng thận ghép. Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ biến chứng mạch máu có thể giảm nếu các bác sĩ thực hiện đúng các kỹ thuật khâu nối và theo dõi sát sao tình trạng mạch máu sau phẫu thuật. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm và chụp cắt lớp vi tính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm các biến chứng này.

3.1 Các nghiên cứu về ghép thận với thận ghép có bất thường mạch máu

Nghiên cứu về ghép thận có bất thường mạch máu đã chỉ ra rằng, việc sử dụng thận có nhiều mạch máu có thể làm tăng nguy cơ biến chứng. Tuy nhiên, với sự phát triển của các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại, nhiều bác sĩ đã thành công trong việc xử lý các bất thường này. Các nghiên cứu cũng cho thấy, việc lựa chọn thận hiến có cấu trúc mạch máu bình thường vẫn là ưu tiên hàng đầu, nhưng không nên loại bỏ hoàn toàn các thận có bất thường nếu có thể xử lý hiệu quả.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm giải phẫu và kỹ thuật xử lý các bất thường mạch máu ở bệnh nhân ghép thận tại bệnh viện hữu nghị việt đức

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm giải phẫu mạch máu thận liên quan đến ghép thận Thông thường cuống mạch thận gồm 1 động mạch và 1 tĩnh mạch đi vào trong thận qua phần giữa của rốn thận. Tĩnh mạch thận nằm ở bình diện giải phẫu trước hơn so với động mạch. Cả hai thành phần này bình thường nằm ở trước hệ thống bài xuất nước tiểu (hệ thống đài bể thận) [Hình 1.1: Giải phẫu bình thường của thận [11] luan an 16 Hình 1.2: Hình ảnh nhìn mặt trước thận phải bình thường [11] 1.

Động mạch thận 1.1 Giải phẫu bình thường của động mạch thận [10] Đa số các trường hợp, thận được cấp máu bởi một động mạch duy nhất chiếm khoảng 70% - 80% [12],[13],[14],[15]. - Nguyên ủy: Thông thường động mạch thận tách ra từ bờ bên động mạch chủ bụng (ĐMCB) ở dưới nguyên uỷ của động mạch mạc treo tràng trên (ĐMMTTT) khoảng 1cm, đối chiếu lên cột sống ngang mức khe gian đốt sống thắt lưng I và II hoặc bờ trên đốt sống thắt lưng II. - Đường đi: Động mạch thận phải: Hình thái kinh điển đã được các nhà nghiên cứu mô tả là động mạch thận phải dài hơn động mạch thận trái, chạy ngang trước đốt sống thắt lưng I và đi chếch xuống dưới phía sau tĩnh mạch chủ dưới, rồi chạy dọc sau tĩnh mạch thận phải, khi tới rốn thận thì chạy chếch lên trên tĩnh luan an 17 mạch thận. Động mạch thận trái: Ngắn hơn động mạch thận phải, nằm trong bình diện ngang hoặc đi xiên xuống dưới một chút để vào rốn thận.

Cả hai động mạch đều tạo góc ra sau một chút từ động mạch chủ bụng do vị trí bình thường của thận xoay ra phía sau. Động mạch thận nằm sau tĩnh mạch thận tương ứng. Động mạch thận vừa có chức năng nuôi dưỡng thận vừa là động mạch chức phận. - Tận cùng: Động mạch thận khi đi đến gần rốn thận, mỗi động mạch chia thành hai nhánh động mạch: nhánh trước và nhánh sau.

Các nhánh động mạch này thường chia ra khoảng 5 nhánh động mạch nhỏ đi vào xoang thận, một nhánh đi sau bể thận, các nhánh còn lại đi trước bể thận. Trong xoang thận, các động mạch chia ra các nhánh đi vào nhu mô thận ở giữa các tháp gọi là động mạch gian thùy thận. Khi tới đáy tháp thận, động mạch gian thùy thận chia thành các động mạch cung nằm trên đáy tháp. Từ động mạch cung đi về vỏ thận có các nhánh động mạch gian tiểu thùy, rồi cho các nhánh động mạch nhập đi vào tiểu thể thận.

Trong bao tiểu thể thận, nhánh động mạch nhập sẽ tạo nên một cuộn mao mạch nằm gọn trong bao rồi từ đó ra khỏi bao bởi nhánh động mạch xuất. Nhánh động mạch xuất sau đó lại chia thành một lưới mao mạch xung quanh hệ thống ống sinh niệu rồi dẫn máu về hệ thống tĩnh mạch. - Ngành bên và ngành nối: Ngành bên: gồm các động mạch tuyến thượng thận dưới và động mạch cho niệu quản. Ngành nối: Các nhánh của động mạch thận là các động mạch tận không có vòng nối với nhau và không có vòng nối với các nhánh của động mạch khác.

luan an 18 - Kích thước động mạch thận: Chiều dài động mạch thận phải (55mm) dài hơn động mạch thận trái (48,36 mm), và đường kính mỗi động mạch từ 4,2 – 4,34 mm.2 Các hình thái biến đổi giải phẫu của động mạch thận Động mạch thận có nhiều biến đổi do quá trình phát triển phôi thai phức tạp của động mạch thận cũng như của thận. Những biến đổi giải phẫu của động mạch thận được biểu hiện chủ yếu là sự thay đổi về số lượng động mạch, bên cạnh đó còn gặp thay đổi về nguyên uỷ, đường đi, sự phân nhánh bên cũng như phương thức phân nhánh tận và phân vùng cấp máu của nó trong nhu mô thận. - Thay đổi ở mức nguyên uỷ và vị trí động mạch thận tách ra từ ĐMCB Theo nghiên cứu của Trịnh Xuân Đàn năm 1999 [12] thì 96,29% các trường hợp động mạch thận chính tách từ bờ bên ĐMCB ở vị trí dưới nguyên uỷ của ĐMMTTT từ 5 - 20mm và có 3,71% tách ở ngang mức nguyên uỷ ĐMMTTT. Không gặp trường hợp nào nguyên ủy động mạch thận tách ra trên nguyên ủy của ĐMMTTT hoặc dưới nguyên uỷ ĐMMTTD.

Một số nghiên cứu của các tác giả khác cũng có nhận xét tương tự khi nghiên cứu giải phẫu thận của người Việt Nam [13],[16]. Trong trường hợp thận có nhiều động mạch nếu nguyên ủy các động mạch thận đều tách ra từ động mạch chủ bụng sẽ ở những vị trí khác nhau. Các động mạch cùng đi vào rốn thận thường có nguyên ủy gần nhau và đều ở dưới nguyên ủy ĐMMTTT. Các động mạch cực thận và các động mạch xiên đi vào mép thận cũng tách ra từ động mạch chủ bụng ở cao hơn hay thấp hơn nguyên ủy của các động mạch đi vào rốn thận, vị trí tách của động mạch cực dưới có thể ở dưới nguyên ủy của ĐMMTTD.

luan an 19 Động mạch thận, ngoài nguyên ủy thông thường tách ra từ bờ bên của động mạch chủ bụng còn có thể có nguyên uỷ từ các động mạch khác như: từ động mạch chủ ngực, ĐMMTTT, ĐMMTTD, động mạch chậu gốc, động mạch chậu trong hoặc từ động mạch thận bên đối diện. Những bất thường về nguyên uỷ động mạch thận kể trên thường gặp trong những trường hợp thận lạc chỗ không nằm đúng vị trí giải phẫu, do rối loạn trong quá trình phát triển phôi thai [12],[17],[18]. - Thay đổi đường đi của động mạch thận Trịnh Xuân Đàn cũng gặp 2 trường hợp động mạch thận phải chạy phía trước tĩnh mạch chủ dưới để vào rốn thận. Đặc biệt có 1 trường hợp có 2 động mạch thận phải trong đó 1 động mạch đi phía sau còn 1 động mạch đi phía trước tĩnh mạch chủ dưới tạo thành một vòng động mạch quây quanh tĩnh mạch chủ dưới [12].

- Thay đổi số lượng động mạch thận Nhiều tác giả khi nghiên cứu về giải phẫu động mạch thận đều cho rằng những thận có nhiều động mạch thì động mạch chính là những động mạch tách ra trực tiếp từ động mạch chủ bụng và đi qua rốn thận vào thận. Như vậy có thể có nhiều hơn 1 động mạch thận chính. Các động mạch chính này thường có đường kính khá lớn (4-5mm) và hơn kém nhau không đáng kể (khoảng 1mm) [12],[19]. Các động mạch thận phụ là những động mạch tách ra từ động mạch chủ bụng hoặc được tách ra từ các động mạch khác như động mạch gan chung, động mạch hoành, động mạch thượng thận, động mạch thân tạng, ĐMMTTT, ĐMMTTD, động mạch chậu.

Các động mạch thận phụ cũng có thể đi vào rốn thận cùng động mạch thận chính nhưng phần lớn chạy riêng trực tiếp vào nhu mô các cực, các mặt thận [19]. luan an 20 Theo Nguyễn Quang Quyền ở người Việt Nam có 37% có động mạch cực dưới hay cực trên thận [10]. Theo Trịnh Xuân Đàn tỷ lệ gặp động mạch cực thận là 14,7% trong đó cực trên là 9,3% và cực dưới là 5,43% [12]. Theo Nguyễn Thế Trường tỷ lệ gặp động mạch cực trên là 25% và cực dưới là 10% [15].

Một số tác giả nhận thấy động mạch cực dưới thận thường đi vào thận ở ngang mức chỗ nối bể thận – niệu quản trong 16% trường hợp và có thể gây chèn ép, tắc nghẽn bể thận niệu quản bẩm sinh dẫn đến hội chứng khúc nối bể thận niệu quản [16]. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài thấy thận có nhiều động mạch chiếm tỷ lệ 25 - 30% các trường hợp và thường gặp nhiều ở bên trái. Nhiều động mạch thận cả hai bên có thể gặp ở 9% các trường hợp có nhiều động mạch thận [17]. Renan Uflacker đã đưa ra bảng phân loại và tần suất các kiểu cấp máu cho thận như sau: Hình 1.3: Những kiểu và tần suất của động mạch thận [20] A) Một động mạch đến rốn thận 55,3%.

B) Một động mạch đến rốn thận và nhánh của nó đến cực trên của thận 14,3% C) Hai động mạch thận đến rốn thận 7,9%. D) Một động mạch đến rốn thận và một nhánh động mạch chủ bụng đến cực luan an 21 trên của thận 6,8%. E) Một động mạch đến rốn thận và một nhánh động mạch chủ bụng đến cực dưới của thận 5,3%. F) Hai động mạch đến rốn thận và một nhánh của nó đến cực trên thận 3,4%.

G) Một động mạch đến rốn thận và chia nhánh sớm 2,6%. H) Ba động mạch đến rốn thận 1,9%. I) Hai động mạch đến rốn thận và một nhánh của động mạch chủ bụng đến cực trên của thận 1,1%. J) Hai động mạch đến rốn thận và một nhánh của động mạch chủ bụng đến cực dưới của thận 0,7%.

K) Hai động mạch đến rốn thận và 2 nhánh của động mạch chủ bụng đến 2 cực của thận 0,4%. L) Ba động mạch đến rốn thận và 2 nhánh của động mạch chủ bụng đến 2 cực của thận 0,4%. - Động mạch thận chia nhánh sớm: Là những trường hợp động mạch thận chia các nhánh cách nguyên ủy dưới 1,5 cm.4: Động mạch thận bên phải chia nhánh sớm [21] luan an 22 1.3 Ứng dụng trong ghép thận - Động mạch thận là động mạch tận, mỗi động mạch, nhánh động mạch cấp máu cho 1 vùng thận nhất định không chồng chéo và không có vòng nối với nhau. Do vậy trong ghép thận chúng ta phải bảo tồn tối đa các nhánh của động mạch thận nhất là những trường hợp thận có nhiều động mạch.

Chỉ thắt những động mạch nhỏ có đường kính dưới 1,5mm và diện cấp máu cho thận nhỏ (dưới 10%). - Các động mạch chia nhánh sớm thì thân chung ngắn, khó khăn khi cặp cắt trong lấy thận, nếu cặp cắt không sát nguyên ủy sẽ tạo thành trường hợp thận có nhiều động mạch gây khó khăn khi ghép thận. Do vậy trong quá trình phẫu thuật lấy thận để ghép ở những trường hợp này cần phẫu tích cẩn thận đến sát chỗ gốc động mạch thận chia ra từ động mạch chủ để thân động mạch thận dài nhất có thể, cố gắng cắt động mạch thận càng xa chỗ chia nhánh càng tốt, sẽ thuận lợi cho quá trình rửa và ghép thận. - Nếu thận có các động mạch cực cần chú ý khi lấy thận tránh làm đứt gây chảy máu và khó khăn khi ghép thận.

Với động mạch cực dưới cần bảo toàn tối đa vì từ động mạch mày thường có các nhánh cấp máu nuôi nửa trên niệu quản, nếu đứt có thể gây hoại tử, xơ hẹp niệu quản sau ghép thận. Tĩnh mạch thận 1. Giải phẫu bình thường của tĩnh mạch thận - Nguyên ủy: Tĩnh mạch thận bắt nguồn từ vùng vỏ và tủy thận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Giải phẫu và kỹ thuật xử lý bất thường mạch máu ở bệnh nhân ghép thận tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức" của tác giả Nguyễn Minh Tuấn, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đoàn Quốc Hưng, tập trung vào việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giải phẫu và các kỹ thuật xử lý bất thường mạch máu trong bối cảnh ghép thận. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biến chứng có thể xảy ra trong quá trình ghép thận mà còn đề xuất các phương pháp can thiệp hiệu quả, từ đó nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực y học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ mycophenolic acid và số lượng tế bào lympho T ở bệnh nhân ghép thận", nơi nghiên cứu mối liên hệ giữa thuốc và phản ứng miễn dịch trong ghép thận. Bên cạnh đó, "Nghiên cứu mức lọc cầu thận bằng cystatin C ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2" cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về chức năng thận và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe thận. Cuối cùng, "Nghiên cứu nồng độ IgA, IgG, IgM huyết tương ở bệnh nhân hội chứng thận hư nguyên phát" sẽ cung cấp thêm thông tin về các chỉ số miễn dịch liên quan đến bệnh thận, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề liên quan đến thận trong y học.