Chương 1: Nêu lên một số lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, các chiến lược cạnh tranh, nêu lên tổng quan chung về công ty và tình hình kinh doanh sản phẩm nước uống tinh khiết BWWACO trên địa bàn Thành phố Vũng Tàu. Chương 2: Nêu lên những giải pháp, chiến lược mà công ty Cổ phần Cấp nước Bà Rịa Vũng Tàu thực hiện trong các năm qua nhằm đưa sản phẩm ra thị trường, đồng thời phân tích đánh giá của khách hàng về các chiến lược và giải pháp đã đưa ra để Học viên: Phạm Chiến Thắng, Khóa 2010-2012 5 Luận văn Cao học QTKD Viện Ktế & Qlý, ĐHBK HN xem xét những việc đã làm được cần phát huy, những vấn đề còn tồn tại cần có biện pháp khắc phục. Chương 3: Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm nước tinh khiết BWACO. Phần kết luận tổng kết lại những nội dung chính của đề tài.
Phần phụ lục đưa ra các phụ lục phục vụ cho đề tài. Phần tài liệu tham khảo nêu lên những tài liệu đã tham khảo, nghiên cứu trong suốt quá trình làm đề tài. Học viên: Phạm Chiến Thắng, Khóa 2010-2012 6 Luận văn Cao học QTKD Viện Ktế & Qlý, ĐHBK HN CHƢƠNG 1: CƠ SỞ PHƢƠNG PHÁP LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. M t số vấn ề chung về cạnh tr nh: Tuy cạnh tranh là vấn đề phổ biến và được nghiên cứu từ rất lâu, nhưng cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Do vậy, để đưa ra khái niệm này một cách có căn cứ, cần điểm lại một số lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới và trong nước.1 Kh i ni m về cạnh tr nh: Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia. Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Có thể tóm lược một số nội dung cơ bản về lý thuyết cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay như sau: Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu, là một quy luật cơ bản trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực.
Cạnh tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến cạnh tranh, giành giật, khống chế lẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí đổ vỡ lớn. Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, x lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sang cạnh tranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh không phải là khi nào cũng đồng nghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ nhau.
Trên thực tế, các thủ pháp cạnh tranh hiện đại dựa trên cơ sở cạnh tranh bằng chất lượng, mẫu mã, giá cả và các dịch vụ hỗ trợ. Bởi lẽ, khi mà các đối thủ cạnh tranh quá nhiều thì việc tiêu diệt các đối thủ khác là vấn đề không đơn giản. Học viên: Phạm Chiến Thắng, Khóa 2010-2012 7 Luận văn Cao học QTKD Viện Ktế & Qlý, ĐHBK HN Như đã điểm qua ở trên, các quan niệm về cạnh tranh là rất nhiều và cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm đưa ra trên đây cũng góp một phần làm sáng tỏ cạnh tranh là gì.
Tập hợp những quan điểm trên xin đưa ra một khái niệm về cạnh tranh trong kinh tế, đặc biệt là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp: Trong hoạt động kinh tế, cạnh tranh luôn liên quan đến quyền sở hữu. Nói cách khác, sở hữu là điều kiện để cạnh tranh kinh tế diễn ra. “Cạnh tranh” là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (giữa các quốc gia, doanh nghiệp) trên cơ sở s dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế kết hợp áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất cũng như dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu khách hàng bằng sản phẩm chất lượng và giá cả hợp lý và “cạnh tranh” cũng tạo ra sự khác biệt giữa các sản phẩm cùng loại thông qua các giá trị vô hình mà doanh nghiệp tạo ra. Qua đó, doanh nghiệp sẽ giành lấy những vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để tối đa hóa lợi nhuận.2 V i trò củ cạnh tr nh Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng và trong lĩnh vực kinh tế nói chung.
Cạnh tranh không những có mặt tác động tích cực mà còn có những tác động tiêu cực. Về mặt tích cực: * Ở tầm vĩ mô, cạnh tranh mang lại: Động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế, giúp đất nước hội nhập tốt kinh tế toàn cầu. * Ở tầm vi mô, đối với một doanh nghiệp cạnh tranh được xem như công cụ hữu dụng để: Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn. để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng.
Người tiêu dùng được hưởng những sản phẩm hay dịch vụ tốt hơn với giá thành hợp lý. Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội cũng như kinh tế. Làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, gây ra hiện tượng độc quyền, làm phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo. Học viên: Phạm Chiến Thắng, Khóa 2010-2012 8 Luận văn Cao học QTKD Viện Ktế & Qlý, ĐHBK HN Dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật.
Vì lý do trên, cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước. “Bên cạnh đó, cần thay đổi tư duy cạnh tranh từ đối đầu sang hợp tác cùng có lợi. Hãy xem Trung Quốc, khi Tập đoàn Wall Mart vào Trung Quốc giành thị phần, các doanh nghiệp Trung Quốc đành là người cung cấp đầu vào, tuy nhiên đến nay chiếm trên 60% sản phẩm hàng hoá của Wall Mart ở các siêu thị trên thế giới là hàng Trung Quốc, như vậy Trung Quốc đã lợi dụng Tập đoàn Wall Mart để "cõng" hàng hoá của Trung Quốc ra bên ngoài… Vì vậy, bài học ở đây là Việt Nam phải vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, trong hợp tác có cạnh tranh, trong cạnh tranh có hợp tác, đó là cách ứng x thông minh”1 1. N ng ực cạnh tr nh: 1.
Kh i ni m n ng ực cạnh tr nh: Trong từ điển tiếng Việt định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại, trên cùng một thị trường tiêu thụ”. Nhìn chung năng lực cạnh tranh có thể phân biệt theo các cấp độ: Năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ. - Năng lực cạnh tranh của quốc gia: Là khả năng của một đất nước trong việc nhận rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung nhất là đối với tăng cường thu nhập và việc làm mà không gặp khó khăn trong cán cân thanh toán. Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào khả năng khai thác cơ hội trên thị trường quốc tế.
- Năng lực cạnh tranh của ngành doanh nghiệp: Là khả năng bù đắp chi phí duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần sản phẩm và dịch vụ doanh nghiệp trên thị trường. Theo đó doanh nghiệp có chi phí càng thấp, lợi nhuận và thị phần càng cao thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó càng lớn và ngược lại. - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ: Là khả năng thỏa mãn tốt các nhu cầu, mong muốn của khách hàng, nó được thể hiện bằng việc khách hàng lựa chọn sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của mình. Do đó sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao là sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả hạ và sự tiện lợi cho khách hàng.
Nguyễn Đăng Doanh - Nguồn: Lao động Học viên: Phạm Chiến Thắng, Khóa 2010-2012 9 Luận văn Cao học QTKD Viện Ktế & Qlý, ĐHBK HN Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng bao gồm thêm nhiều nhân tố mới. Nhiều nhân tố như khả năng nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, trình độ cán bộ quản lý, uy tín doanh nghiệp, khả năng nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. ngày nay càng được coi trọng. Nắm được xu thế phát triển tất yếu này, doanh nghiệp sẽ có khả năng phát huy tối đa năng lực của mình để giành giật thị phần trên thị trường.
Sự thành công của doanh nghiệp chiếm lĩnh được một mảng thị trường lớn đều xuất phát từ chính mỗi năng lực cạnh tranh của từng sản phẩm. Mỗi một sản phẩm của doanh nghiệp đưa ra có chỗ đứng trên thị trường cạnh tranh được với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh tốt thì doanh nghiệp mới phát triển được. Vì vậy khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm cần so sánh mối quan hệ giữa sản phẩm đó với các nhân tố tác động từ bản thân các chính sách của doanh nghiệp cũng như từ sự cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Từ đó đưa ra các biện pháp thích hợp.
C c tiêu chí nh gi n ng ực cạnh tr nh củ do nh nghi p 1. Ti u h ánh giá hung - Tổ chức của doanh nghiệp và phân công trách nhiệm. - Trình độ của đội ngũ lãnh đạo. - Tỷ lệ công nhân viên lành nghề.
- Số sáng kiến, cải tiến, đổi mới hàng năm được ứng dụng vào sản xuất kinh doanh. - Chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật. - Năng lực tài chính của doanh nghiệp. - Chất lượng sản phẩm.
- Thị phần của doanh nghiệp. - Năng suất lao động của doanh nghiệp. - Chất lượng môi trường sinh thái. - Giá trị vô hình của doanh nghiệp.