CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG 1.1 Công trình xây dựng và chất lượng công trình xây dựng. Theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng 2014: Công trình xây dựng là sản phẩm do con người tạo ra, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình được liên kết, định vị với công trình, có thể bao gồm cả phần ngầm, phần trên mặt đất, phần dưới nước và phần trên mặt nước được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. Chất lượng công trình không chỉ gắn trực tiếp với an toàn của con người, an toàn của cộng đồng, hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng mà còn là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của các công trình xây dựng của mỗi quốc gia.
Do có vai trò quan trọng như vậy nên việc xây dựng pháp luật ở các nước trên thế giới coi đây là mục tiêu. Tại Việt Nam, Luật Xây dựng năm 2003 đã được Quốc hội khóa XI thông qua năm 2003, trong đó chất lượng công trình xây dựng cũng là nội dung trọng tâm và xuyên suốt. Hoàn thiện Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn Luật Quản lý chất lượng công trình xây dựng theo hướng hội nhập quốc tế; Các mô hình quản lý chất lượng xây dựng tiên tiến và hệ thống tiêu chí kỹ thuật cũng được áp dụng hiệu quả. Tuy nhiên, sau gần 10 năm, Luật Xây dựng 2003 cũng cần được rà soát, sửa đổi, bổ sung để thích ứng với thị trường và tạo sự thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng.
Theo đề nghị của Ban tổ chức hội nghị, trong bài viết này tôi tập trung cho ý kiến về dự án luật xây dựng (sửa đổi) trong lĩnh vực quản lý chất lượng công trình xây dựng. Chất lượng công trình xây dựng chính là an toàn, độ bền, các yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật của công trình nhưng phải tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, các quy định của văn bản pháp luật và hợp đồng kinh tế có liên quan. chất lượng công trình minh họa trong hình 1.1, chất lượng công trình không chỉ đảm bảo an toàn kỹ thuật mà còn đảm bảo an toàn. phải đáp ứng các yêu cầu về sử dụng an toàn, bao gồm các yếu tố xã hội và kinh tế.
Ví dụ, một công trình quá an toàn, quá kiên cố nhưng không phù hợp với quy 4 hoạch, kiến trúc, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng (an toàn, bảo vệ môi trường, v.), về mặt kinh tế cũng không đáp ứng được yêu cầu chất lượng của công trình. Có được chất lượng công trình như mong muốn có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó cơ bản nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, chủ đầu tư) và khả năng tham gia vào quá trình hình thành sản phẩm xây dựng của các nhà thầu tham gia. Trên cơ sở sơ đồ này, việc chia sẻ quyền quản lý cũng được các quốc gia luật hóa với nguyên tắc nội dung “phù hợp” (nghĩa là vì lợi ích của xã hội và cộng đồng) do Nhà nước kiểm soát và nội dung “bảo hiểm” do các chủ thể trực tiếp thực hiện. tham gia vào quá trình đầu tư xây dựng (nhà đầu tư và doanh nhân) có nghĩa vụ kiểm soát.1 Sơ đồ hóa các yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng công trình Chất lượng không tự nhiên nảy sinh, nó là kết quả của sự tác động qua lại của hàng loạt các yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau.
Để đạt được chất lượng như mong muốn, cần quản lý tốt các yếu tố này. Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý nhằm xác định và thực hiện chính sách chất lượng. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng. Quản lý chất lượng xây dựng là một tập hợp các hoạt động được thực hiện bởi một cơ quan có chức năng quản lý chung thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, tổ chức chất lượng, kiểm tra chất lượng và cải tiến chất lượng sản phẩm.
Là công việc khó và phức tạp nhất trong các khâu quản lý chất lượng công trình xây dựng trong các dự án đầu tư xây dựng. Một số thuật ngữ trong quản lý chất lượng được hiểu như sau: 5 QLCL CSCL HTCL KSCL ÐBCL T ÐBCLN Hình 1.2 Mô hình khái niệm quản lý chất lượng "Chính sách chất lượng" là tập hợp các ý định và chỉ đạo về chất lượng được ban lãnh đạo công ty chính thức công bố. Nó là một tuyên bố về việc nhà cung cấp dự định đáp ứng nhu cầu của khách hàng như thế nào, tổ chức phải như thế nào và các phương tiện để đạt được điều đó. "Hoạch định chất lượng" là các hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu, yêu cầu về chất lượng và thực hiện các yếu tố của hệ thống chất lượng.
"Kiểm soát chất lượng" có nghĩa là các kỹ thuật và hoạt động vận hành được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng. "Đảm bảo chất lượng" có nghĩa là bất kỳ hoạt động chất lượng có kế hoạch và có hệ thống nào được cho là nhằm đảm bảo rằng các yêu cầu chất lượng sẽ được đáp ứng. " Hệ thống chất lượng" đề cập đến cơ cấu tổ chức, các thủ tục, quá trình và các nguồn lực cần thiết để quản lý chất lượng. Quản lý chất lượng công trình xây dựng bao gồm các hoạt động quản lý chất lượng của nhà thầu xây dựng; giám sát thi công xây dựng công trình và phụ trách công việc của chủ đầu tư; Tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng để giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình nhằm đảm bảo chất lượng công trình, tổ chức, cá nhân hoạt động 6 xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với từng lô thầu hoặc từng loại công việc cụ thể.
Quản lý chất lượng công trình xây dựng bao gồm các hoạt động quản lý chất lượng của nhà thầu xây dựng; giám sát thi công xây dựng công trình và phụ trách công việc của chủ đầu tư; Tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng để giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình nhằm đảm bảo chất lượng công trình, tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với từng lô thầu hoặc từng loại công việc cụ thể. Nhìn chung, quản lý chất lượng là việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng, đồng thời là việc tính toán hiệu quả kinh tế để đạt được chi phí thấp nhất. Bằng cách thiết lập các chính sách phù hợp, quản lý chất lượng cho phép tiết kiệm tối đa và giảm thiểu các chi phí không cần thiết. Quản lý chất lượng là quản lý chất lượng, quản lý chất lượng là nhiệm vụ của mỗi thành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của các cấp, nhưng phải do cơ quan có thẩm quyền cao nhất lãnh đạo.
Chất lượng công trình là tổng hòa của nhiều yếu tố nên để quản lý chất lượng công trình cần kiểm soát và quản lý tốt các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình bao gồm: con người, vật tư, đầu tư, trang thiết bị, kỹ thuật. các biện pháp và việc áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến. Cụ thể, các yếu tố như sau: Về con người: Để quản lý tốt chất lượng công việc thì yếu tố con người rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc. Cán bộ, Công chức phải là những kỹ sư chuyên ngành có nhiều kinh nghiệm trong công việc, có phẩm chất, đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm cao.
Người lao động có trình độ chuyên môn cao, đúng chuyên môn, sức khỏe tốt, tinh thần trách nhiệm cao, được đào tạo cơ bản tại các trường lớp. Nếu kiểm soát tốt chất lượng cán bộ, công chức và người lao động thì sẽ kiểm soát được chất lượng công việc, góp phần quản lý tốt chất lượng công việc. Về phương pháp: 7 Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng là một trong những yếu tố cơ bản góp phần đẩy nhanh tốc độ cải tiến và hoàn thiện chất lượng công trình. Trong đó công tác quản lý kỹ thuật thi công là khâu quan trọng trong công tác quản lý chất lượng công trình.
Phương pháp công nghệ phù hợp, hiện đại, trình độ tổ chức và quản lý tốt sẽ tạo điều kiện tốt cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Về thiết bị: Máy móc thiết bị có tác động rất lớn đến việc nâng cao chất lượng công việc, vì vậy cần phải quản lý hợp lý máy móc thiết bị, luôn đảm bảo đủ số lượng và chất lượng máy móc, thiết bị phục vụ công tác xây dựng. Đặc biệt trong quá trình thi công tổ chức cần luôn có phương án dự phòng máy móc thiết bị để đảm bảo quá trình thi công được liên tục trong trường hợp xảy ra sự cố, có đội thợ vận hành máy và thợ sửa chữa máy móc xây dựng chuyên nghiệp. Máy móc thường xuyên được kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa theo chế độ hiện hành.
Về vật tư: Quản lý nguồn nguyên vật liệu để đáp ứng yêu cầu chất lượng và quy cách thiết kế. Quản lý sao cho việc cung cấp nguyên vật liệu phải đảm bảo đúng số lượng, thời gian và số lượng nguyên vật liệu trên công trường theo yêu cầu.2 Yêu cầu, đặc điểm và nguyên tắc của việc quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình.1 Yêu cầu Chất lượng là kết quả của sự phối hợp thống nhất giữa công việc và các yếu tố kỹ thuật, kinh tế, văn hóa xã hội. Chất lượng phản ánh khả năng đáp ứng các yêu cầu chức năng kỹ thuật, phản ánh giá trị sử dụng mà sản phẩm đạt được. Thuộc tính chất lượng phải là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều bộ phận và được hình thành trong mọi hoạt động và quá trình.
Ngoài ra, nó không chỉ phản ánh trình độ kỹ thuật của sản phẩm mà còn phản ánh trình độ và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, mỗi vùng trong từng thời kỳ. Vì vậy, phải cân nhắc chặt chẽ giữa quá trình tiền sản xuất và hậu 8 kỳ. Chất lượng phải được xem xét chặt chẽ giữa các yếu tố trực tiếp, gián tiếp, bên trong và bên ngoài.2 Đặc điểm Chất lượng là tương đối và thay đổi theo thời gian, không gian và loại thị trường cụ thể.