MỞ ĐẦU 1.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: Cùng với sự chuyển biến tích cực về mặt kinh tế - xã hội, vấn đề đô thị hóa ngày càng được mở rộng và phát triển trong cả nước. Về số lượng đô thị, năm 1990 cả nước mới có khỏang 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã tăng lên 649 đô thị, và đến năm 2003 đã có 656 đô thị. Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị lớn trực thuộc trung ương. Với vai trò đầu tàu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa – du lịch, giáo dục – khoa học kỹ thuật – y tế lớn của các nước.
Theo định hướng phát triển không gian đô thị, bên cạnh việc cải tạo, chỉnh trang kết hợp với xây dựng mới khu nội thành cũ, thành phố tiếp tục mở rộng và phát triển đô thị tại các vùng đất kém hiệu quả về nông nghiệp, chi phí đền bù thấp để phát triển khu đô thị mới nhằm giải quyết nhu cầu nhà ở của người dân. Các khu đô thị mới này được xây dựng theo hướng hiện đại, có cơ sở hạ tầng đồng bộ, giữ gìn cảnh quan và đảm bảo môi trường sống với chất lượng cao. Tuy nhiên, phát triển kinh tế - xã hội cho dù ở hình thức hay qui mô nào cũng luôn phát sinh nhiều vấn đề môi trường cần quan tâm giải quyết, đặc biệt là nước thải chưa xử lý từ các đô thị mới xả thẳng vào kênh rạch gây ô nhiễm đáng báo động ảnh hưởng không những cảnh quan đô thị mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng dọc kênh rạch gây bất bình trong dân chúng. Đô thị mới Phú Mỹ Hưng được xây dựng trên vùng đất có hệ thống kênh rạch bao quanh là nơi tiếp nhận các nguồn thải từ các đô thị.
Hệ thống kênh rạch bao quanh khu đô thị góp phần làm đẹp cảnh quan và tăng giá trị của các khu đô thị. Tuy nhiên, khả năng tiếp nhận và tự làm sạch của từng kênh rạch, dòng sông đều có giới hạn. Việc xả các chất thải vào nguồn nước không kiểm sóat được hoặc kiểm sóat không chặt chẽ dễ dàng dẫn đến sự quá tải của các nguồn tiếp nhận. Vấn đề này nếu không được quan tâm nghiên cứu để có các giải pháp xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước như các kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, kênh Tân Hóa – Lò Gốm,… mà thành phố đang tốn rất nhiều kinh phí và công sức để cải thiện chất lượng của kênh.
Trước tình hình đó, vấn đề cấp bách đặt ra là: - Cần thiết nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân khách quan của vấn đề môi trường ở vùng đô thị mới; 10 - Tìm hiểu và khảo sát về hiện trạng quy họach xây dựng các khu đô thị mới với công tác bảo vệ môi trường theo qui định hiện hành của Nhà nước - Trên cơ sở xem xét hiện trạng môi trường và các nguyên nhân, đánh giá mức độ ô nhiễm, mức độ tác hại của ô nhiễm môi trường, và từ đó đề xuất các giải pháp khả thi để bảo vệ môi trường của các khu vực phát triển đô thị mới. Phát xuất từ các vấn đề đã nêu trên, đề tài “Nghiên cứu các giải pháp thích hợp cải thiện điều kiện môi trường nước mặt tại các vùng ven khu đô thị mới Thành phố Hồ Chí Minh (trường hợp cụ thể là khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng) là hết sức cần thiết.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Trên cơ sở đánh giá nhận xét khách quan có cơ sở khoa học và thực tiễn về hiện trạng môi trường nước mặt tại các vùng ven khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi bảo vệ môi trường nhằm phát triển các khu đô thị mới thân thiện với môi trường.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU * Thu thập các thông tin tư liệu về qui họach và họat động của khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng (PMH), Thành phố Hồ Chí Minh. * Khảo sát thực tế ở khu đô thị mới PMH và các vùng dân cư phụ cận với các vấn đề môi trường có liên quan: - Hiện trạng môi trường (nước thải, rác thải, môi trường không khí, cây xanh,…) a. Hiện trạng hệ thống xử lý nước thải (nếu có) – công nghệ và hiệu quả xử lý.
Thực trạng công tác xử lý chất thải rắn. Hiện trạng môi trường không khí. Mật độ cây xanh. - Hiện trạng chất lượng nguồn nước mặt tại vùng nghiên cứu.
Xác định nguồn gốc và mức độ ô nhiễm. Lấy và phân tích các chỉ tiêu hóa lý một số mẫu nước tại các kênh rạch xung quanh khu đô thị mới. * Đánh giá nhận xét tổng quát các khía cạnh môi trường ở khu đô thị mới và những ảnh hưởng của nó. * Đề xuất các giải pháp khả thi bảo vệ môi trường tại vùng phát triển đô thị mới PMH.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Thu thập và xử lý thông tin tư liệu có liên quan đến vấn đề đô thị hóa, các vấn đề qui hoạch phát triển và hoạt động của khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng.
11 - Điều tra, khảo sát thực địa các vấn đề về môi trường ở khu vực nghiên cứu: chất thải rắn, không khí, mật độ cây xanh, nước thải,… - Thẩm vấn cộng đồng: lấy ý kiến của cộng đồng dân cư về các vấn đề môi trường của khu vực, qua đó đánh giá khả năng nhận thức của người dân trong công tác bảo vệ môi trường. - Lấy và phân tích một số mẫu nước mặt ở các tuyến sông rạch nghiên cứu. - Thống kê và xử lý số liệu quan trắc nhằm đánh giá nguồn gây ô nhiễm và mức độ ô nhiễm môi trường hiện nay ở khu vực nghiên cứu.5 TỔNG QUAN VỀ TIẾN TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.1 Tiến trình đô thị hóa và vấn đề quy hoạch đô thị: Có nhiều cách hiểu về đô thị như sau: - Đô thị là một tiêu điểm mà ở đó hội tụ các lưu lượng, trong khi các lưu lượng khác thì từ đó sinh ra và tỏa đi. Do vậy mà vai trò chính của đô thị là đảm bảo cho thị dân những dịch vụ, trao đổi và thông tin mà nó tàng trữ và phân phát theo quyền lợi của người tiêu dùng trong vùng càng nhiều nếu qui mô đô thị càng lớn.
Sự tăng giảm các lưu lượng này là bộ mặt họat động của đô thị, nó đặt ra cho các nhà chỉnh trang những bài tóan cụ thể về đô thị và về quản lý đô thị. - Đô thị là một không gian mờ vì đường ranh giới về đất đai của nó rất khó xác định. Đầu tiên người ta xác định đô thị theo mật độ dân số. Nhưng ngày nay mật độ cũng biến động theo thời gian, ta không thể loại bỏ những người ở ngoài đô thị, hàng ngày vào làm ăn sinh sống trong đô thị.
- Để tiện cho việc thống kê, có khi người ta xác định đô thị theo mật độ xây dựng thể hiện bằng mét vuông nhà trên hecta đất, những lý thuyết về mạng đã phá vỡ không gian cứng nhắc này. Kể cả những hình ảnh thu qua vệ tinh về sự phát triển diện tích xây dựng đô thị cũng không đánh giá được những lưu lượng lý học và nhất là những lưu lượng mang tính chất phi vật chất. [2] - Đô thị là nơi tập trung dân cư với mật độ cao, họat động ở đây chủ yếu là thương mại, dịch vụ, du lịch, văn hóa, khoa học, …; là nơi tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, sản phẩm của xã hội tính trên đầu người cao hơn nhiều lần so với trị số trung bình của quốc gia; và cũng đồng thời là nơi phát sinh ra nhiều chất thải, gây ô nhiễm môi trường nhất, không chỉ riêng nơi đây mà ô nhiễm cho cả một vùng rộng lớn xung quanh. Đô thị hóa, công nghiệp hóa sẽ làm cho mức sống của người dân ngày càng cao, kinh tế xã hội phát triển.
Do đó theo Nghị quyết số 57/2006/QH11 về kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006 – 2010 của cả nước thì đến năm 2010 diện tích đất phi nông nghiệp là 12 3.300ha (chiếm 11,92% diện tích đất tự nhiên của cả nước), trong đó đất ở đô thị là 93.300ha chiếm 0,35%; đất chuyên dùng là 2. Hiện nay mạng lưới đô thị quốc gia đã được mở rộng, có hơn 656 đô thị lớn nhỏ; trong đó có 4 thành phố thuộc Trung ương là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và 82 thành phố, thị xã thuộc tỉnh, hơn 537 thị trấn và trên 60 KCN đang xây dựng sẽ kéo theo sự hình thành của các khu ĐTM. Quá trình đô thị hóa nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến sự cân bằng của hệ sinh thái bị phá vỡ, đảo lộn qui luật tự nhiên, có tác động trực tiếp đến cuộc sống con người và sự phát triển bền vững của đô thị. Công tác Quy hoạch đô thị là nội dung kỹ thuật của việc xây dựng đô thị.
Qui hoạch đô thị là hình mẫu trên giấy, hay mô hình của đô thị sẽ xây dựng trước mắt và phát triển trong tương lai, theo sơ đồ chỉ đạo hay quy hoạch định hướng hay luận chứng kinh tế đã được phê duyệt. Một bản quy hoạch tốt sẽ đem lại cho đời sống đô thị sự hoạt động nhịp nhàng hợp lý và kinh tế, đem lại cho không gian đô thị vẻ đẹp tối ưu, lưu truyền qua nhiều thế hệ. [2] * Mục tiêu và ý nghĩa của quy hoạch cải tạo đô thị: Cải tạo những đô thị cũ cho phù hợp với những yêu cầu xây dựng đô thị mới là một vấn đề phức tạp có liên quan đến nhiều mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Việc cải tạo những đô thị cũ phải gắn liền với những yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất không ngừng nâng cao mức sống cho nhân dân đô thị.
Việc cải tạo những đô thị cũ còn phải đảm bảo yêu cầu đổi mới trang thiết bị và thiết bị kỹ thuật của đô thị trên cơ sở khai thác những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật xây dựng. Tùy theo hòan cảnh cụ thể của từng đô thị, công tác quy hoạch cải tạo đô thị cần đảm bảo những yêu cầu sau: 1. Trên cơ sở tiến bộ xã hội và những mục tiêu của cuộc cách mạng đề ra, tiến hành phân bố lại dân cư, phân bố lại các đô thị, đảm bảo yêu cầu phát triển đồng đều trong cả nước và cân đối giữa các vùng.