MỞ ĐẦU Việt nam đang bước vào tỉlê' kỷ XXỈ với nhiều cơ hội và thách thức, đặc biệt là chúng ta đang đối mặt với vận hội mới của lịch sử đó là sự hợp tác để phát triển bền vững. Điều này tạo nên một xu thế nổi bật trong quan hệ quốc tế, như nghị quyết Dại hội Dang VIII, IX đã nhân định vả đưa ra chiến lược phát triển kinh tế đất nước bẳng cách tham giơ ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực cũng như liên kết quốc tế về kình tế, thương mại. Để các doanh nghiệp Việt nam hội nhập được vào thị trường thế giới thể hiện quơ việc hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt nam có đủ sức cạnh tranh, tồn tại và phát triển trong cuộc đọ sức gay gắt trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệp phải hiếu và tiếp cận nghiền cứu hệ thống quản lý môi trường (QLMT) theo ISO 14001 và nhãn sinh thái dối với sản xuất và kinh doanh, chế biến một sô mặt hàng xuất khẩu chủ dạo nhằm, trước hết là bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, dồng thời mở rộng thị trường vổ khẳng định vị thế của các doanh nghiệp Vệt nam. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cấp bách đó, nhiệm vụ ‘'Nghiên cứu gidi pháp áp dụng hệ thống QLMT theo ỈSO 14001 và nhãn sinh thái nhầm nâng cao khả năng xuất khẩu chè và cà phê Việt nam” đã.
được chọ làm đề tài nghiên cứu của các thành vi.ên trong bộ môn Nghiệp vụ thương mại Quốc tế- Trường Dại học Thương mại. Nhiệm vụ nghiên cứu có 3 mục tiều chủ yếu là: ■ l ong quan về hệ thống QLMT theo ISO ỉ4001 và nhỡn sinh thải hàng hoá ’ Nâng cao nhận thúc áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường đối với các doanh nghiệp ■ Dế xuất một sô' giải pháp từ phía Nhà nước và từ phía doanh nghiệp để triền khai úp dụng mô hình QLMT theo ISO 14001 vànhãn sinh thái nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu chè và cà phê Việt. Dé thục hện các mục tiêu trên, đề tài kết cấu làm 3 phần: ■ Phần I: Tổng quan vềỈ1TQLMT theo ISO 14001 và nhãn sinh thái. " Phần 11: Thực trạng việc áp dụng hệ thống quản, lý môi trường theo ISO ỉ4001 trong các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu chè, cà phê ở Việt, nam.
’ Phần 111: Các giải pháp áp dung ỈỈTQLMT theo ISO 14001 và nhãn sinh thái nhằm nàng cao khả năng xuất khẩu chè và cờ phê của các doanh nghiệp Việt nam. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG THEO ISO 14001 VÀ NHÃN SINH THÁI I. NHŨNG VÂN ĐỂ CHUNG VỂ MÔI TRƯỜNG VÀ ô NHIÊM MÔĨ TRƯỜNG * Các vân đề môi trường ngày càng gia tăng Môi trường, sức klioỏ vù sự phát triổn của con người phụ thuộc rất nhiều vào những gì chúng ta đang làm hôm nay. Nếu con người không thay đổi phương thức khai thác sản xuất và thậm chí cả những nề nếp sinh hoạt thì trái đất vẫn tiếp tục bỊ tổn thương và mòi truờng chúng ta đang sống sẽ tiếp tục bị huỷ hoại, Những vấn đề chung nhất về tình trạng môi trường liên quan lới mọi quốc gia có thể kể đến như sau: - Tầng ôzân hị suy giảm.
Với ý nghĩa như lưới lọc, tầng ồzôn có tác dụng ngăn cản các luồng bức xạ có hại của mặt trời để bảo vệ trái đất. Theo một vòng tuần hoàn động của sự cân bằng sinh thái, tầng òzôn này thường xuyên bị phá huỷ và lại được kiến tạo lại một cách bền vững ổn định để duy trì chức năng của nó. Tầng ôzôn bị phá huỷ nhiều sẽ làm sẽ làm ảnh hưởng tới tình trạng sức khoẻ con người gây huỷ hoại thuỷ tinh thể. Nó cũng gây tác tác động đến đời sống cây trồng , tới quá trình quang hợp và những ảnh hưởng lau (lài tới sản phẩm nông nghiệp - Trái dấí dang nóng dẩn lên Sự nóng díìn lên của trái đất hay “ Hiệu ứng nhà kính “ là hiện tương nóng dổn lên của khí quyển do sự gia tăng của một số loại khí trong đó chủ yếu là khí dioxide carbon (CO2 ), Metan và một số loại khí phá huỷ tầng ôzôn.
Lớp khí này hấp thụ một số bức xạ mặt trời và phản xạ lại một lượng bức xạ nhiệt từ trái đất. Tổng lượng Carbon trên trấi đất được cân bằng nhờ sự hấp thụ Carbon dioxide của cây trồng và đại dương nhưng sự cân bằng đó bị phá vỡ khi tổng lượng carbon dioxide gia tăng do con ngưòi thiêu đốt quá nhiều các dạng nhiên liêu và nạn tàn phá rừng. Hai năm gần đây tổng lượng Carbon dioxide tăng khoảng 25%. Ị - Mất cân bằng sinh thái Sự đa dạng của quần thể là một trong những yếu tố cơ bản nhất để các hệ sinh thái dễ thích nghi với những thay đổi mồi trường.
Các loài động vật hoang dã sống trong một quần thể đa dạng cùng thường dễ thích nghi và chống chọi với bệnh tật tốt hơn là các loài nuôi trong môi truờng nhân tạo. Nhiều loại cây trồng chỉ có thời vụ độc canh vì thiếu điều kiện đa dạng sinh học, nhiều loài cây quí chỉ tồn tại trong hệ sinh thái rừng và chúng sẽ mất đi khi rừng bị huý diệt. - Ô nhiễm không khí Ước tính khoảng 1/5 dân số thế giới đang phải hít thở bầu không khí ô nhiễm do các khí thải độc hại vượt quá mức giới hạn cho phép mà tổ chức y tế thế giới WTO qui định. Các nguồn khí thải có axit đặc biệt nguồn thải có sunĩuarơ và Nitrogen đang ngày càng gia tăng do việc đốt cấc nhiên liệu trong công nghiệp, cung cấp năng lượng và trong vận tải.
Các nguồn ô nhiễm không khí truyền toả vượt qua biên giới gây ô nhiễm, mưa axit ờ những nơi khác. Đất bị axil hoá sẽ bạc màu và tồn đọng các kim loại dộc làm ô nhiễm nguồn nước ngầm. Các hoá chất hữu cơ bay hơi, các khí thải từ các lò thiêu đốt rác thải là những nguồn chính tạo nên ô nhiễm không khí. - ô nhiễm các nguồn nước Nước là cội nguồn cho mọi sự sống trên trái đất.
Tuy nhiên các nguồn nước và đại dương từ lâu bị coi như một nơi để thải bỏ các chất thải. Ô nhiễm nước có thể do các các hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhưng cũng có thể do nhiều yếu tố khác như sự lan chảy thẩm thấu của các nguồn thuốc trừ sâu, phân bón cho cây. o nhiễm nước ngầm, ô nhiễm biển và đại dương cũng là những vân dề nan giải và việc giải quyết hết sức khó khãn tốn kém. Vấn đề ô nhiếm môi trường sinh thái dã dẫn đến việc hình thành nên nhu cầu có một hệ thống chung hường dẫn quản lý môi trường được thế giới công nhận.
Bởi vậy, tiêu chuẩn ISO 14001 tuy còn mới đối với Việt Nam, nhưng cũng đã đống góp vai trò quan trọng cho các doanh nghiệp trong việc lựa chọn mô hình quản lý môi trường cho mình. 2 Trong thời gian gần đây, nhận thức về bảo vệ môi trường cũng như việc tiếp cận tới các công tác bảo vệ môi trường ngày càng gia tăng tại cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam. Thực tế đó xuất phát từ các yêu cầu: - Pháp luật về môi trường ngày càng chặt chẽ Vào năm 1985, Chính phủ Việt Nam xây dựng chương trình Quốc gia về bảo vệ môi trường và cùng với sự giúp đỡ của IƯCN đã cho ra "Chiến lược quốc gia về bảo tồn tài nguyên thiên nhiên" Vào năm 1990, Uỷ ban Khoa học Nhà nước (nay là Bộ Khoa học - Công nghệ - Môi trường), với sự giúp đỡ của UNDP, ƯNEP, 1UCN và SĨDA xây dựng báo cáo "Kế hoạch Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững”.12/6/1992, Hội đồng Bộ trường chính thức ban hành kế hoạch này. Kế hoạch bao gồm đề cương cho Chiến lược Quốc gia về bảo vệ môi trường, bao gổm khuôn khổ cho việc quản lý các vấn đề môi trường ở qui mô Quốc gia, cấp vùng và địa phương.
Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam và đã được Quốc hội thông qua vào tháng 12 - 1993 và ban hành vào ngày 10 - 01 - 1994. Bên cạnh Luật môi trường, còn có một số luật và nghị định khác cũng có liên quan tới môi trường như: * Luật đất đai, ban hành nãm 1989. * Nghị định về bảo vệ sức khoẻ con người ban hành nãm 1989. * Nghị định về tài nguyên khoáng sản, ban hành năm 1989.
* Luật về bảo vệ và phát triển rừng ban hành năm 1991 * Luật tài nguyên khoáng sản và Pháp lệnh thuế Tài nguyên khoáng sản ban hành năm 1995. * Nghị định về các sản phẩm biển ban hành năm 1998. * Luật tội phạm môi trường, ban hành năm 2000,. Hiện nay ở nước ta có một số tiếu chuẩn liên quan tới môi trường.
Ví dụ như tiêu chuẩn 505/BYT được ban hành bởi Bộ Y Tế vào năm 1992; các tiêu chuẩn được ban hành bởi Bộ Thuỷ Sản và các tiêu chuẩn khác được ban hành bởi Tổng Công ty Than Việt Nam. Tiêu chuẩn môi trường quan trọng hiện nay là Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), ban hành năm 1995 bởi Bộ Khoa học công nghệ 3 môi trường. Tiêu chuẩn quốc gia này bao gổm 10 tiêu chuẩn cụ thể từ TCVN 5937 - 1995 đến TCVN 5946 - 1995. - Kinh phí bảo vệ môi trường ngày càng gia tăng.
Một trong những nguyên nhân khiến cho vấn đề môi trường được các doanh nghiệp quan tâm hơn là chi phí bảo vệ môi trường. Có những chi phí dành cho việc thực hiện các quy định về môi trường và có những chi phí khác liên quan tới việc nộp phạt do vi phạm môi trường. Đối với nhiều Công ty, chi phí thực hiộn các qui định bảo vệ môi trường chỉ được xem như chi phí hoạt động kinh doanh. Như đã đề câp ở trên, chi phí thực hiện sẽ tăng lên vì các qui định ngày càng da dạng.
Thực tế hiện nay là chi phí cho các vấn đề về môi trường tỉ lệ thuận với qui mô và thu nhập của Công ty. Tại Mỹ, các tập đoàn công nghiệp phải chi gần 2% lợi nhuận cho việc bảo vộ môi trường. Người ta dự tính rằng khoảng 20% vốn đầu tư của doanh nghiệp sẽ phải dành cho các dư án về mồi trường. Tương tự tai Việt Nam, ngành than đã đề nghị và được Chính phủ cho phép trích 1% chi phí sản xuất để đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường.