Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị doppler động mạch tử cung và một số yếu tố liên quan tiên lượng kháng methotrexat ở bệnh nhân u nguyên bào nuôi nguy cơ thấp

Luận án tiến sĩ phân tích giá trị doppler động mạch tử cung và yếu tố tiên lượng kháng methotrexat ở bệnh nhân u nguyên bào nuôi nguy cơ thấp.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Sản phụ khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

183
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh lý u nguyên bào nuôi

Bệnh lý u nguyên bào nuôi (UNBN) là một nhóm bệnh lý ác tính hoặc có tiềm năng ác tính của các nguyên bào nuôi. Tỷ lệ mắc bệnh này ở Châu Á cao hơn so với các khu vực khác, với tỷ lệ điều trị khỏi lên đến 98% nếu phát hiện sớm. Tuy nhiên, tỷ lệ này giảm xuống còn 87% nếu phát hiện muộn. Việc chẩn đoán sớm là rất quan trọng để có phác đồ điều trị phù hợp. Methotrexat (MTX) đã trở thành phương pháp điều trị chính cho UNBN từ những năm 1950, nhưng khoảng 30% bệnh nhân UNBN nguy cơ thấp (NCT) sẽ kháng đơn hóa trị liệu MTX. Do đó, việc xác định sớm nhóm bệnh nhân này là cần thiết để điều trị hiệu quả hơn.

1.1. Lịch sử và dịch tễ học bệnh nguyên bào nuôi

Bệnh nguyên bào nuôi đã được đề cập từ thời cổ đại, nhưng sự hiểu biết về bệnh còn hạn chế. Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi theo vùng địa lý, với Châu Á có tỷ lệ mắc cao hơn. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc UNBN là 1,68/100.000 phụ nữ tuổi sinh đẻ. Các yếu tố như gen, điều kiện kinh tế xã hội và môi trường có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh này.

1.2. Phân nhóm hình thái u nguyên bào nuôi

Năm 2002, FIGO đã phân loại UNBN thành bốn nhóm chính: thai trứng xâm lấn, ung thư nguyên bào nuôi, u nguyên bào nuôi vùng rau bám và u nguyên bào nuôi dạng biểu mô. Mỗi nhóm có đặc điểm và phương pháp điều trị khác nhau, trong đó thai trứng xâm lấn có nguy cơ gây chảy máu trầm trọng và cần điều trị hóa chất.

II. Giá trị của siêu âm Doppler động mạch tử cung

Siêu âm Doppler động mạch tử cung (ĐMTC) là một phương pháp không xâm lấn giúp đánh giá sự tưới máu của khối u và có khả năng tiên lượng kháng MTX ở bệnh nhân UNBN. Nghiên cứu cho thấy chỉ số xung động mạch tử cung (PI ĐMTC) có thể dự đoán khả năng kháng hóa trị liệu MTX. PI thấp thường liên quan đến tân tạo mạch bất thường, một đặc điểm của khối UNBN. Việc kết hợp PI ĐMTC với bảng điểm FIGO có thể cải thiện khả năng dự đoán kháng MTX.

2.1. Tác dụng của siêu âm Doppler trong chẩn đoán

Siêu âm Doppler đã được sử dụng để chẩn đoán UNBN và đánh giá tình trạng tưới máu của khối u. Các nghiên cứu cho thấy rằng PI ĐMTC nhỏ hơn 1 là một yếu tố tiên lượng khả năng kháng hóa trị liệu MTX. Điều này cho thấy siêu âm Doppler có thể là một công cụ hữu ích trong việc xác định sớm bệnh nhân cần điều trị đa hóa trị liệu.

2.2. Các yếu tố liên quan đến kháng MTX

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều yếu tố như tuổi của bệnh nhân, thai nghén chỉ điểm, và nồng độ βhCG trước điều trị có thể ảnh hưởng đến khả năng kháng MTX. Việc phân tích các yếu tố này kết hợp với giá trị Doppler có thể giúp tiên lượng chính xác hơn về khả năng kháng hóa trị liệu của bệnh nhân UNBN NCT.

III. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng siêu âm Doppler ĐMTC kết hợp với các yếu tố liên quan có thể giúp tiên lượng kháng MTX ở bệnh nhân UNBN NCT. Kết quả cho thấy rằng PI ĐMTC có thể là một chỉ số quan trọng trong việc xác định nhóm bệnh nhân có nguy cơ kháng hóa trị liệu. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc điều chỉnh phác đồ điều trị và cải thiện tỷ lệ thành công trong điều trị UNBN.

3.1. Đánh giá hiệu quả điều trị

Kết quả điều trị cho thấy tỷ lệ kháng MTX ở nhóm bệnh nhân UNBN NCT là một vấn đề cần được chú ý. Việc phát hiện sớm khả năng kháng MTX sẽ giúp điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ cho bệnh nhân.

3.2. Ý nghĩa của nghiên cứu trong thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về giá trị của siêu âm Doppler ĐMTC trong tiên lượng kháng MTX mà còn mở ra hướng đi mới trong việc áp dụng các phương pháp chẩn đoán hiện đại vào điều trị bệnh lý UNBN. Điều này có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân và tăng cường khả năng sinh sản cho những phụ nữ mong muốn có con.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị doppler động mạch tử cung và một số yếu tố liên quan tiên lượng kháng methotrexat ở bệnh nhân u nguyên bào nuôi nguy cơ thấp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Bệnh lý u nguyên bào nuôi 1. Lịch sử bệnh nguyên bào nuôi Bệnh nguyên bào nuôi (BNBN) được đề cập đến từ thời cổ đại, tuy nhiên sự hiểu biết về bệnh còn hạn chế. Năm 400 trước Công nguyên, Hippocrates là người đầu tiên mô tả thai trứng là “phù nề của tử cung”.

Năm 600 sau Công nguyên, Aetius xứ Armida mô tả thai trứng là tử cung “lấp đầy bởi các tổ chức giống bọng nước” [19]. Năm 1700, Smellie là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “hydatid” và “mole” để mô tả thai trứng, nhưng mãi đến năm 1827 Velpeau và Boivin là những người đầu tiên nhận ra rằng các nang này thực chất là các gai rau giãn căng thành nang. Năm 1889, Sanger là người đưa ra thuật ngữ “ung thư tế bào màng rụng tử cung” để mô tả khối u ác tính xuất phát từ màng rụng của bào thai. Năm 1895, Marchand cho rằng những khối u này là hậu quả của quá trình mang thai, sẩy thai hoặc thai trứng và cho rằng đó là sự tăng sinh của hợp bào nuôi và đơn bào nuôi [20].

Năm 1903, Teacher khẳng định những nghiên cứu của Marchand và phủ định lý thuyết của Sanger về sự thoái hóa có tính chất ung thư của màng rụng. Sau đó Fels, Ernhart, Reossler và Zondek nhận thấy có sự tăng cao bất thường của hCG trong nước tiểu của những bệnh nhân thai trứng [21]. Trong 50 năm qua, nghiên cứu về BNBN ghi nhận những đóng góp lớn lao của các nhà khoa học hiện đại. Li và Heztz đã phát triển hóa trị liệu, biến một căn bệnh có tiên lượng xấu trở thành một trong những bệnh ung thư lành tính nhất với khả năng điều trị khỏi gần 100%; Ross, Lipsett, Delfs, Odell và Vaitukaitus nghiên cứu áp dụng nội tiết và hóa trị liệu; Hertig, Sheldon, Gore, luan an 5 Brewer và Park nghiên cứu mô tả bệnh lý học trong BNBN.

Bagshawe, Goldstein, Lewis, Brewer, Lurain và các tác giả khác đã có những đóng góp chung cho sự tiến bộ trong chẩn đoán và những nỗ lực điều trị bệnh lý này. Dịch tễ học bệnh nguyên bào nuôi BNBN là một nhóm bệnh tương đối hiếm gặp, tỷ lệ khoảng 1/1600 thai nghén. Tần suất BNBN thay đổi phụ thuộc vùng địa lý và khác nhau giữa các nghiên cứu, tuy nhiên chủng tộc Châu Á mắc nhiều hơn các chủng tộc khác trên thế giới. Ở Mỹ, tỷ lệ chỉ khoảng 0,5/1000 thai nghén nhưng ở Đài Loan lên đến 8/1000 thai nghén.

Lý do tần suất cao ở Châu Á còn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn nhưng nhiều nhà khoa học thấy yếu tố gen, điều kiện kinh tế xã hội và môi trường có ảnh hưởng đến tần suất mắc bệnh. Tần suất mắc UTNBN cũng không đồng nhất ở Châu Á, cao nhất tại Việt Nam (1,68/100.000) và thấp nhất tại Nhật Bản (0,09/100.000) ở phụ nữ tuổi sinh đẻ. Nghiên cứu ở Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Thái Lan cho thấy tỷ lệ UTNBN từ 63 - 202/100.000 thai nghén trong khi tỷ lệ này tại Nhật Bản, Singapore và Philippine thấp hơn, chỉ khoảng 23/100. Phân nhóm hình thái u nguyên bào nuôi Năm 2002, FIGO thống nhất UNBN là bệnh lý thai sản có tính chất ác tính gồm 4 nhóm là thai trứng xâm lấn, ung thư nguyên bào nuôi, u nguyên bào nuôi vùng rau bám và u nguyên bào nuôi dạng biểu mô [23].

Thai trứng xâm lấn Thai trứng xâm lấn (TTXL) là sự phát triển tiếp các tổn thương của thai trứng với tỷ lệ 15% gặp cả ở TTTP và TTBP [24]. Đa số các trường hợp thai trứng sẽ tự khỏi sau khi hút nhưng một số trường hợp có xu hướng xâm lấn vào cơ tử cung làm thủng tử cung. Các tổn thương ở trong TTXL dù không được xem là tổn thương ác tính, nhưng vì nguy cơ phá huỷ các mạch máu gây chảy máu trầm trọng, nên cần điều trị hoá chất đối với TTXL [3]. luan an 6 Đặc điểm của TTXL [25] là: + Quá sản mạnh của nhiều nguyên bào nuôi ác tính.

+ Tồn tại của nhiều nang trứng. + Xâm nhập phá huỷ khu trú chủ yếu ở cơ tử cung. TTXL không thể chẩn đoán được từ bệnh phẩm khi nạo hút, mà chỉ chẩn đoán chính xác dựa trên mẫu bệnh phẩm tử cung đã được cắt bỏ [26]. Ngày nay với những tiến bộ trong điều trị hoá chất đã hạn chế chỉ định phẫu thuật cắt tử cung trong điều trị, do vậy chẩn đoán TTXL càng khó.

Trong khi đó, TTXL nếu được chẩn đoán sớm thì chỉ cần điều trị hoá chất bằng đơn hoá trị liệu, ít khi phải điều trị bằng đa hoá trị liệu. Do vậy, để phát hiện và điều trị sớm TTXL nhằm tránh các biến chứng ở bệnh nhân bảo tồn tử cung thì mọi bệnh nhân sau nạo thai trứng cần được theo dõi tốt. Ung thư nguyên bào nuôi Ung thư nguyên bào nuôi (UTNBN) là khối u ác tính phát triển từ các nguyên bào nuôi chưa biệt hoá với các đặc thù [25]: + NBN quá sản mạnh, xâm lấn vào cơ tử cung gây hoại tử, chảy máu. + Không thấy hình ảnh gai rau, không có phản ứng mô đệm.

+ Di căn xa đến nhiều phủ tạng, và chỉ di căn theo đường máu. Bệnh liên quan tới mọi hình thức có thai như sau thai thường, sẩy thai, thai chết lưu, chửa ngoài tử cung và thai trứng. Trong đó, thai trứng là thai nghén chỉ điểm dẫn đến UTNBN thường gặp nhất, chiếm khoảng 70%. Còn nguồn gốc sau sẩy thai là 25%; 2,5% sau thai thường và 2,5 % sau chửa ngoài tử cung [7],[27].

Lần mang thai cuối cùng không hẳn là lần mang thai dẫn đến phát sinh UNBN, bởi nguyên bào nuôi có thể tồn tại hơn 300 ngày trong cơ thể. Phần lớn biến chứng UNBN xảy ra trong vòng 6 tháng sau nạo nhưng cũng có một số trường hợp bệnh xảy ra sau vài năm, thậm chí tới cả chục năm. luan an 7 Nguyên nhân bệnh sinh của UTNBN cũng như giống như thai trứng cho đến nay vẫn chưa biết rõ. Tế bào nuôi vốn có tính chất như một tế bào ác tính, đó là xâm lấn và phá huỷ, nhưng có lẽ do mối quan hệ mẹ con và cơ chế miễn dịch tự động nên đã làm hạn chế tính chất ác tính, hoặc dòng tế bào nuôi ác tính là một dòng riêng khác biệt như trong ung thư bạch cầu.

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện, như các đánh giá về vai trò của Oncoprotein rau thai trong sự tồn tại của TTTP, TTBP và UNBN, cũng như những biến đổi về DNA của các khối u nguyên bào nuôi liên quan thai nghén và không liên quan đến thai nghén nhưng đến nay vẫn chưa tìm được căn nguyên của bệnh [28]. U nguyên bào nuôi vùng rau bám Năm 1976, Kurman là người đầu tiên mô tả u nguyên bào nuôi vùng rau bám (UNBNVRB) ở nhóm 12 bệnh nhân, đặc trưng bởi phản ứng NBN quá mức ở vùng rau bám khác với các bệnh lý UNBN khác [29],[30]. Đặc điểm đó là khối tế bào có nhiều hình dạng khác nhau nằm ở lớp nội mạc hay lớp cơ tử cung, có các đặc thù giống như sự xâm nhập của các nguyên bào nuôi không mang tính chất u tại vị trí làm tổ của rau, do đó lúc đầu được gọi là “khối nguyên bào nuôi giả u tại tử cung”. UNBNVRB là một hình thái hiếm gặp trong các dạng UNBN, bệnh xảy ra sau bất cứ tình trạng thai nghén nào, nhưng hay gặp nhất là sau đẻ.

Thời gian tiềm tàng rất thay đổi, có thể 1 tuần cho tới cả chục năm. Cơ chế bệnh sinh hiện nay vẫn chưa được biết rõ, UNBNVRB có nguồn gốc từ tế bào trung gian ngoài lông rau, đặc trưng bởi sự chuyển tiếp thành u ở vào giai đoạn cuối cùng của sự trưởng thành các NBN. U nguyên bào nuôi dạng biểu mô Thuật ngữ "u nguyên bào nuôi dạng biểu mô" được Mazur và Kurman đưa ra lần đầu vào năm 1994 [31]. Năm 1998, Shih và Kurman mô tả đặc điểm mô bệnh học của UNBNDBM của 14 bệnh nhân, sau đó phân loại đây là luan an 8 một loại u thực thể riêng biệt của UNBN.

Trong UNBNDBM có sự tăng sinh ác tính của tế bào nuôi trung gian của lá thai, được các nhà mô bệnh học thống nhất là một nhóm khác biệt với UNBNVRB và UTNBN. UNBNDBM dễ bị chẩn đoán nhầm với UTNBN, UNBNVRB và ung thư cổ tử cung, nhưng khối u này có những đặc điểm riêng biệt về mặt mô bệnh học và tính chất đặc hiệu khi làm hóa mô miễn dịch [32]. Tiêu chuẩn chẩn đoán và bảng điểm tiên lượng UNBN Khái niệm về bảng điểm tiên lượng được đưa ra lần đầu bởi Bagshawe vào năm 1976, trong bảng điểm này tác giả dựa vào 13 yếu tố có giá trị với UNBN, mỗi yếu tố có sức nặng ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh khác nhau [33]. Bảng điểm tiên lượng năm 1983 của WHO được xây dựng dựa trên bảng điểm của Bagshawe nhưng lược bớt những yếu tố ít giá trị ảnh hượng đến bệnh và chia bệnh nhân UNBN thành 3 nhóm nguy cơ thấp, nguy cơ trung bình và nguy cơ cao.

Bảng điểm này được sử dụng trong gần 20 năm, cho đến khi được thay thế bởi bảng điểm tiên lượng của FIGO năm 2002 [34],[35],[36]. Tiêu chuẩn chẩn đoán UNBN theo FIGO năm 2002 Một khó khăn với những người điều trị UNBN là đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán UNBN. Ở Mỹ, khi nồng đồ βhCG bình nguyên 3 tuần là có chỉ định điều trị hóa chất. Ở một số nước khác, người ta chỉ điều trị khi βhCG bình nguyên kéo dài ít nhất 4 tuần.

Sau nhiều năm nghiên cứu và bàn thảo, ủy ban nghiên cứu của FIGO khuyến cáo tóm lược lại còn 4 tiêu chuẩn để chẩn đoán UNBN là [23],[34],[35],[36],[37]: 1. βhCG bình nguyên kéo dài 3 tuần hoặc dài hơn khi định lượng ở 4 thời điểm ngày 1, ngày 7, ngày 14 và ngày 21. βhCG tăng lên trong thời gian theo dõi 2 tuần liên tiếp hoặc dài hơn khi định lượng ở 3 thời điểm ngày 1, ngày 7 và ngày 14. Chẩn đoán UNBN khi lượng βhCG còn cao (> 5 IU/l) sau 6 tháng hoặc dài hơn.

Chẩn đoán UNBN khi có giải phẫu bệnh là ung thư nguyên bào nuôi. Phân chia giai đoạn bệnh trên cơ sở giải phẫu của FIGO năm 2002 Hiện nay FIGO phân giai đoạn bệnh trên cơ sở giải phẫu như sau [34],[35],[36]: - Giai đoạn I: Khối u khu trú tại tử cung. - Giai đoạn II: Khối u lan ra ngoài tử cung nhưng còn giới hạn trong cơ quan sinh dục như âm đạo, buồng trứng, dây chằng rộng. - Giai đoạn III: Khối u di căn đến phổi, có hoặc không có di căn đến đường sinh dục.

- Giai đoạn IV: Khối u di căn đến các vị trí khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Giá trị Doppler động mạch tử cung và tiên lượng kháng methotrexat ở bệnh nhân u nguyên bào nuôi" của tác giả Nguyễn Thái Giang, dưới sự hướng dẫn của GS. Vương Tiến Hòa và PGS. Vũ Bá Quyết, được thực hiện tại Trường Đại Học Y Hà Nội vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá giá trị của phương pháp Doppler động mạch tử cung trong việc tiên lượng khả năng kháng methotrexat ở bệnh nhân mắc u nguyên bào nuôi. Kết quả của nghiên cứu không chỉ cung cấp thông tin quan trọng cho việc điều trị mà còn mở ra hướng đi mới trong việc áp dụng công nghệ Doppler trong lĩnh vực sản phụ khoa.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sản phụ khoa và điều trị, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Kháng Sinh Dự Phòng Trong Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Hùng Vương, nơi nghiên cứu về kháng sinh trong phẫu thuật sản phụ khoa, và Giáo Trình Kinh Tế Dược Tập 1: Nội Dung và Ứng Dụng, cung cấp cái nhìn tổng quan về kinh tế dược trong lĩnh vực y tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực y học và sản phụ khoa.