Luận án tiến sĩ: Giá trị của beta hCG tự do và hCG toàn phần trong bệnh nguyên bào nuôi

Nghiên cứu giá trị của beta hCG tự do và hCG toàn phần huyết thanh trong bệnh nguyên bào nuôi, cung cấp thông tin quan trọng cho chẩn đoán.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Sản Phụ Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

171
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về bệnh nguyên bào nuôi

1.2. Phân loại mô bệnh học của bệnh nguyên bào nuôi

1.3. Tính chất di truyền của bệnh nguyên bào nuôi

1.4. Chẩn đoán bệnh nguyên bào nuôi

1.5. Điều trị bệnh nguyên bào nuôi

1.6. Theo dõi sau điều trị

1.7. Đặc điểm cấu trúc và chức năng sinh học của hCG

1.7.1. Cấu trúc phân tử hCG

1.7.2. Chuyển hóa của hCG

1.7.3. Chức năng sinh học của hCG trong thai nghén

1.7.4. Chức năng sinh học của phân tử hCG thông thường

1.7.5. Chức năng sinh học của hCG-H

1.7.6. Chức năng sinh học của βhCG tự do

1.7.7. Chức năng sinh học của hCG tuyến yên

1.8. Các phương pháp xét nghiệm hCG

1.8.1. Xét nghiệm hCG bằng phương pháp sinh vật

1.8.2. Xét nghiệm hCG bằng phương pháp miễn dịch

1.8.3. Tính đặc hiệu và ứng dụng của các phương pháp xét nghiệm

1.9. Các vấn đề còn tồn tại trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh nguyên bào nuôi và kết quả của một số nghiên cứu liên quan đến βhCG tự do, hCG toàn phần huyết thanh

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán u nguyên bào nuôi sau chửa trứng

2.5. Tiêu chuẩn khỏi bệnh đối với theo dõi sau nạo trứng

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.6.1. Thiết kế nghiên cứu

2.6.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.6.3. Phương pháp tiến hành nghiên cứu

2.6.4. Thu thập các thông tin cho nghiên cứu

2.6.5. Xét nghiệm βhCG tự do và hCG nguyên vẹn huyết thanh

2.6.6. Tính nồng độ hCG toàn phần và tỷ lệ βhCG tự do/hCG toàn phần huyết thanh

2.6.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

2.6.8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm của các nhóm nghiên cứu

3.2. Một số đặc điểm của nhóm chửa trứng

3.3. Đặc điểm của nhóm đối chứng

3.4. Kết quả mục tiêu 1

3.5. Giá trị của các loại hCG huyết thanh trong chửa trứng

3.6. Giá trị của các loại hCG huyết thanh trong chửa thường

3.7. Giá trị của các loại hCG huyết thanh trong u nguyên bào nuôi

3.8. So sánh các giá trị hCG huyết thanh giữa các nhóm

3.9. Kết quả mục tiêu 2

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận về một số đặc điểm của các nhóm nghiên cứu

4.2. Bàn luận về một số đặc điểm của nhóm chửa trứng

4.3. Đặc điểm của nhóm đối chứng

4.4. Bàn luận về mục tiêu 1 của nghiên cứu

4.5. Giá trị của các loại hCG huyết thanh trong chửa trứng

4.6. Giá trị của các loại hCG huyết thanh trong chửa thường

4.7. Giá trị của các loại hCG huyết thanh trong u nguyên bào nuôi

4.8. Bàn luận về vai trò của βhCG tự do, hCG nguyên vẹn, hCG toàn phần và tỷ lệ βhCG tự do/hCG toàn phần huyết thanh trong chẩn đoán phân biệt chửa trứng, chửa thường, u nguyên bào nuôi

4.9. Bàn luận về mục tiêu 2

CÁC BÀI BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về giá trị của beta hCG tự do và hCG toàn phần

Bệnh nguyên bào nuôi là một nhóm bệnh lý hiếm gặp nhưng có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng. Việc nghiên cứu giá trị của beta hCG tự dohCG toàn phần trong chẩn đoán và theo dõi bệnh nguyên bào nuôi là rất cần thiết. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nồng độ của các loại hCG này có thể giúp phân biệt giữa chửa trứng và u nguyên bào nuôi, từ đó cải thiện khả năng chẩn đoán và tiên lượng cho bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa và phân loại bệnh nguyên bào nuôi

Bệnh nguyên bào nuôi bao gồm các loại chửa trứng và u nguyên bào nuôi. Chửa trứng có thể được phân thành chửa trứng hoàn toàn và chửa trứng bán phần, trong khi u nguyên bào nuôi có thể là ung thư biểu mô màng đệm hoặc u nguyên bào nuôi vùng rau bám.

1.2. Vai trò của hCG trong thai kỳ và bệnh lý

Hormone hCG có vai trò quan trọng trong việc duy trì thai kỳ. Nồng độ hCG trong huyết thanh có thể phản ánh tình trạng sức khỏe của thai phụ và sự phát triển của thai nhi. Việc theo dõi nồng độ hCG giúp phát hiện sớm các bất thường trong thai kỳ.

II. Thách thức trong chẩn đoán bệnh nguyên bào nuôi

Chẩn đoán bệnh nguyên bào nuôi gặp nhiều khó khăn do sự tương đồng giữa các triệu chứng của chửa trứng và u nguyên bào nuôi. Việc sử dụng beta hCG tự dohCG toàn phần có thể giúp cải thiện độ chính xác trong chẩn đoán. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết để tối ưu hóa quy trình chẩn đoán.

2.1. Khó khăn trong việc phân biệt chửa trứng và u nguyên bào nuôi

Nồng độ hCG có thể tăng cao trong cả hai tình trạng này, dẫn đến khó khăn trong việc phân biệt. Cần có các phương pháp xét nghiệm chính xác hơn để xác định tình trạng bệnh lý.

2.2. Tác động của nồng độ hCG đến tiên lượng bệnh

Nồng độ hCG không chỉ phản ánh tình trạng hiện tại mà còn có thể dự đoán nguy cơ biến chứng. Việc hiểu rõ mối liên hệ này là rất quan trọng trong việc quản lý bệnh nhân.

III. Phương pháp nghiên cứu giá trị của beta hCG và hCG toàn phần

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp xét nghiệm hiện đại để đo nồng độ beta hCG tự dohCG toàn phần trong huyết thanh. Các mẫu được thu thập từ bệnh nhân có chẩn đoán bệnh nguyên bào nuôi và chửa thường. Phân tích dữ liệu sẽ giúp xác định giá trị chẩn đoán của các loại hCG này.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, với cỡ mẫu đủ lớn để đảm bảo tính chính xác. Các bệnh nhân được chọn lọc dựa trên tiêu chí chẩn đoán rõ ràng.

3.2. Phương pháp xét nghiệm hCG

Các phương pháp xét nghiệm như ELISA và RIA được sử dụng để đo nồng độ hCG. Những phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, giúp cung cấp kết quả chính xác.

IV. Kết quả nghiên cứu về giá trị của hCG trong bệnh nguyên bào nuôi

Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ beta hCG tự dohCG toàn phần có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm bệnh nhân. Những giá trị này có thể được sử dụng để phân biệt giữa chửa trứng và u nguyên bào nuôi, từ đó hỗ trợ trong việc chẩn đoán và điều trị.

4.1. So sánh nồng độ hCG giữa các nhóm bệnh nhân

Nồng độ hCG trong huyết thanh của bệnh nhân chửa trứng cao hơn so với nhóm đối chứng. Điều này cho thấy giá trị chẩn đoán của hCG trong bệnh nguyên bào nuôi.

4.2. Ứng dụng thực tiễn của kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong thực tiễn lâm sàng để cải thiện quy trình chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân. Việc sử dụng hCG như một chỉ số sinh học có thể giúp phát hiện sớm các biến chứng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu hCG

Nghiên cứu về giá trị của beta hCG tự dohCG toàn phần trong bệnh nguyên bào nuôi mở ra nhiều triển vọng mới trong chẩn đoán và điều trị. Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn vai trò của các loại hCG này trong các tình huống lâm sàng khác nhau.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ hCG và cách mà chúng có thể được sử dụng để cải thiện chẩn đoán.

5.2. Hướng đi mới trong điều trị bệnh nguyên bào nuôi

Việc hiểu rõ hơn về vai trò của hCG có thể dẫn đến các phương pháp điều trị mới, giúp cải thiện kết quả cho bệnh nhân mắc bệnh nguyên bào nuôi.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh nguyên bào nuôi Bệnh nguyên bào nuôi là khái niệm về nhóm bệnh lý do nguyên bào nuôi gây ra. Đây là nhóm bệnh hiếm gặp, có nhiều hình thái lâm sàng, điều trị phức tạp và có nhiều biến chứng. Phân loại mô bệnh học của bệnh nguyên bào nuôi Tổ chức Y tế thế giới8 phân loại bệnh nguyên bào nuôi gồm bốn nhóm theo đặc điểm tế bào học gồm: ➢ Nhóm bệnh chửa trứng • Chửa trứng hoàn toàn • Chửa trứng bán phần Còn cấu trúc • Chửa trứng xâm nhập gai rau ➢ Nhóm u nguyên bào nuôi • Ung thư biểu mô màng đệm • U nguyên bào nuôi vùng rau bám • U nguyên bào nuôi dạng biểu mô Mất cấu trúc ➢ Nhóm các tổn thương nguyên bào nuôi không u gai rau • Mở rộng hay phì đại vùng rau bám • Các nốt, mảng vùng rau bám ➢ Nhóm các bất thường khác của gai rau Hai nhóm thường gặp trong bệnh nguyên bào nuôi là chửa trứng và u nguyên bào nuôi (UNBN).

Đặc điểm mô bệnh học của chửa trứng - Chửa trứng hoàn toàn (CTHT):9,10 toàn bộ bánh rau bị thoái hóa, biến đổi thành các nang chứa dịch; các nang này chiếm toàn bộ lòng tử cung, không thấy tổ chức phôi thai hoặc rau thai trong tổ chức sau nạo, hút. Hình ảnh đại thể: các nang to nhỏ không đều nhau, mỗi nang có đường kính khoảng 3-5mm, dịch nang trong suốt hoặc đục lờ nhờ như sữa loãng, có ít mạch máu giữa các nang, các nang liên kết với nhau bởi các mô liên kết tạo thành khối như chùm nho. Hình ảnh vi thể: các nang thoái hóa thường được bao quanh bởi các tế bào nuôi với sự tăng sản quá mức, nhiều lớp. Không thấy tổ chức phôi thai, không thấy sự hiện diện của hồng cầu có nguồn gốc từ phôi.

Các tế bào nuôi tăng sản có sự biến đổi về cấu trúc nhân, thường xảy ra hiện tượng vỡ nhân (karyorrhexis) và cho hình ảnh khác so với các tế bào nuôi trong thai nghén bình thường; glycogen, glycoprotein, acid nucleic phân bố đều trong nguyên sinh chất. Dịch bên trong nang trước khi trưởng thành là các túi chứa các dịch nhầy, có chứa các reticulin (lipoprotein) bao quanh bởỉ các mạch máu. Khi các nang trưởng thành đầy đủ người ta thấy chất dịch bên trong có chứa các collagen ở vùng ngoại vi và dịch này có tính chất ái kiềm (basophilic).10 - Chửa trứng bán phần (CTBP):10 sự thoái hóa, biến đổi thành các nang chứa dịch chỉ diễn ra trên một phần bánh rau. Hình ảnh đại thể: các nang chứa dịch xen kẽ với các vùng có cấu trúc rau thai bình thường, số lượng các nang dịch thoái hóa ít hơn so với CTHT, có thể thấy mô thai.

Hình ảnh vi thể: sự thoái hóa không phải xảy ra ở tất cả các gai rau, có sự tăng sinh của các nguyên bào nuôi ở cả các gai rau thoái hóa và gai rau không thoái hóa, có sự hiện diện của hồng cầu phôi thai trong mạch máu gai rau, không xảy ra hiện tượng vỡ nhân ở các tế bào nuôi, hình thái gai rau 5 không thoái hóa cũng bất thường, các nang thoái hóa có nhiều collagen và có thể thấy cấu trúc của phôi thai. - Chửa trứng xâm nhập (CTXN):11,12 CTXN có thể gặp trong cả CTHT và CTBP. Sự xâm nhập của các nguyên bào nuôi có thể đến nhiều cơ quan trong cơ thể nhưng hay gặp nhất là tử cung và các cơ quan lân cận. Đối với CTXN tại tử cung, hình ảnh đại thể là các tổn thương tại lớp cơ mà bên trong đó có chứa các nang giống như các nang thoái hóa trong chửa trứng nhưng kích thước thường nhỏ hơn và ít khi xâm lấn sâu.

Tuy nhiên cũng có trường hợp mô trứng xâm nhập làm thủng lớp cơ, đẩy các nang trứng vào ổ bụng gây chảy máu. Hình ảnh vi thể thấy có sự hiện diện của các nang trứng thoái hóa xâm nhập vào lớp cơ, có sự tăng sản của các nguyên bào nuôi với các đặc điểm tế bào nuôi của chửa trứng. Với tính phá hủy các mô, trong thực tiễn lâm sàng CTXN được coi như là một trong các hình thái bệnh nguyên bào nuôi ác tính. Đặc điểm mô bệnh học của u nguyên bào nuôi - Ung thư biểu mô màng đệm (choriocarcinoma):2,12 là hình thái ác tính, thường xuất hiện sau chửa trứng, đặc biệt hay gặp là CTHT; một số hiếm xuất hiện sau sẩy, sau đẻ.

Đại đa số bệnh thường xuất hiện trong vòng 6 tháng sau loại bỏ chửa trứng với các biểu hiện lâm sàng tại chỗ và biến chứng di căn. Ung thư biểu mô màng đệm thường biểu hiện tổn thương tại cơ quan sinh dục và một số hay bị di căn như gan, phổi, não. Với tổn thương ở bộ phận sinh dục ngoài, các nhân di căn có thể quan sát ngay trên cơ thể với đặc điểm là khối hình tròn, màu tím sẫm, dễ vỡ gây chảy máu. Đối với nhân di căn ở các cơ quan khác, hình ảnh đại thể sau khi phẫu tích khối u là các khối có khác với tính chất của tổ chức di căn, độ liên kết kém, bờ sù sì, có hình ảnh xuất huyết và hình ảnh hoại tử của tổ chức bên trong.

6 Đặc điểm vi thể: nhân choriocarcinoma là các khối có viền gồm hai loại tế bào giống đặc tính của cấu trúc gai rau nhưng không tìm thấy gai rau bình thường. Có hình ảnh tế bào ung thư là tế bào có nhân gồ ghề, bố trí loạn xạ, chất màu thô, có nhiều múi và có nguyên sinh chất lớn. Trong khối các tế bào ung thư đan xen với các đơn bào nuôi, nguyên bào nuôi trung gian và hợp bào nuôi và có thể thấy các hình hảnh xuất huyết bên trong. Một số trường hợp choriocarcinoma có thành phần chủ yếu là các đơn bào nuôi xen lẫn tế bào ung thư, thành phần hợp bào nuôi rất ít.

Các trường này có nồng độ hCG không cao nhưng đặc tính xâm lấn rất mạnh. Một số báo cáo đã ghi nhận các trường hợp choriocarcinoma xuất hiện ngay khi mang thai. Về cơ bản các tính chất vi thể giống như các trường choriocarcinoma xuất hiện sau các trường hợp thai thường và các nhân chorio có thể di căn cho cả mẹ và em bé.13 - UNBN tại vùng rau bám (placental site trophoblastic tumor):là loại UNBN hiếm gặp, chiếm tỷ lệ khoảng 0,2 - 1,4% bệnh nguyên bào nuôi. 13,14 Đây là hình thái ác tính và đa số xuất hiện trong các trường hợp thai nghén bình thường.

Ban đầu khối u xuất hiện tại vùng bám của rau thai, các tế bào ác tính xâm nhập vào lớp cơ tử cung gây tổn thương dưới nhiều mức độ. 15 Về mặt vi thể các tế bào trong khối u có nhiều hình dạng khác nhau nhưng chủ yếu là các tế bào nuôi trung gian. Các tế bào này có đặc điểm nhân lớn, nhiều nhân, bờ nhân không đều, nguyên sinh chất ưa eosin. Trên tiêu bản có thể thấy các tế bào này xen lẫn vào lớp cơ gây phá hủy tổ chức.

- UNBN dạng biểu mô (epithelioid trophoblastic tumour): một số tác giả coi hình thái ung thư này là một biến thể của UNBN vùng rau bám do có tính chất lâm sàng và cận lâm sàng gần tương tự như nhau. Bệnh thường xuất hiện rất muộn sau thai nghén với tỷ lệ khoảng 1 trên 50000 phụ nữ mang thai.16 7 Trên lâm sàng UNBN dạng biểu mô được thể hiện như những khối u của tử cung. Trên hình ảnh vi thể chúng được thể hiện dưới những nốt đặc trưng là vùng tổn thương có xu hướng khu trú, các nguyên bào nuôi ác tính xen lẫn các nguyên bào nuôi trung gian không điển hình. Đây là sự khác biệt với hình thái UNBN vùng rau bám là có tính xâm nhập và lan tỏa.

Các nguyên bào nuôi trung gian không điển hình có đặc điểm tế bào là các tế bào đơn nhân, nguyên sinh chất sáng, ưa eosin. Xét nghiệm mô bệnh học cho thấy UNBN dạng biểu mô luôn dương tính với p63, PLAP và cytokeratin trong khi hCG và hPL huyết thanh thường ở mức độ thấp. Tính chất di truyền của bệnh nguyên bào nuôi 1. Đặc điểm về bộ nhiễm sắc thể Đặc điểm bộ nhiễm sắc thể của chửa trứng CTHT: bằng các đánh dấu các vị trí trên hai nhiễm sắc thể trong cấu tạo của tế bào người ta thấy CTHT được tạo ra dưới ba hình thái: thứ nhất một tinh trùng thụ tinh với một trứng, bộ nhiễm sắc thể của trứng bị mất (có thể mất trước hoặc sau khi thụ tinh), sau đó xảy ra quá trình nhân đôi tế bào, bộ nhiễm sắc thể của tế bào sau nhân đôi là 46XX, đây là hình thái đồng hợp tử, chiếm tỷ lệ chủ yếu khoảng 75% - 80% các trường hợp CTHT; thứ hai là hai tinh trùng cùng thụ tinh với một trứng, bộ nhiễm sắc thể của trứng cũng có thể mất trước hoặc sau thụ tinh, hình thái karyotypes của tế bào sau thụ tinh là 46XY hoặc 46XX, đây là hình thái dị hợp tử; hình thái thứ ba là các trường hợp thụ tinh bình thường giữa một trứng và một tinh trùng mà trong bào tương của trứng có chứa các gene bị đột biến như NLRP7 hay KHDC3L, các gene này làm bất hoạt hoạt động của các nhiễm sắc thể, hình thái karyotypes của tế bào là 46XY hoặc 46XX.

Trong tất cả các nghiên cứu người ta không bao giờ gặp CTHT với bộ nhiễm sắc thể 46YY.18,19,20 8 Đặc điểm bộ nhiễm sắc thể của CTBP: khác với CTHT, karyotypes trong CTBP là dạng tam bội với các hình thái có thể gặp là 69XXX, 69XXY hoặc 69XYY trong đó có một bộ nhiễm sắc thể có nguồn gốc từ mẹ và hai bộ nhiễm sắc thể có nguồn gốc từ bố.21,22 Quá trình hình thành bộ nhiễm sắc thể như vậy tạo ra sau quá trình thụ tinh giữa hai tinh trùng và một trứng. Ngoài ra trong một số ít trường hợp CTBP cũng được là do có sự rối loạn trong quá trình phân chia tế bào của người bố, tạo ra các tinh trùng có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội và CTBP là do sự thụ tinh của các tinh trùng này với các trứng bình thường của người mẹ.23,24 Các hình thái bất thường khác: một số trường hợp hiếm gặp người ta vẫn thấy các tế bào trong chửa trứng có hình thái nhiễm sắc thể thuộc loại khác mà cơ chế chưa được giải thích rõ ràng như bộ nhiễm sắc thể ở dạng tứ bội;25 tăng cặp nhiễm sắc thể riêng lẻ trong đó chỉ có một nhiễm sắc thể có nguồn gốc từ mẹ (ba nhiễm sắc thể số 6, ba nhiễm sắc thể số 11…).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ